Friday, September 4, 2009

Kỳ bí thôn bát quái của hậu duệ Gia Cát Lượng


Cập nhật lúc : 11:03 AM, 04/09/2009
Nhiều nhà khoa học chuyên nghiên cứu về môi trường và kiến trúc trên thế giới đang tập trung khảo sát một mô hình thôn trang kỳ bí theo bố cục bát quái ở Trung Quốc.

Thôn này có tên là thôn Gia Cát hay Bát Quái, tọa lạc tại thị trấn Lan Khê, tỉnh Triết Giang, được mệnh danh là "Trung Quốc đệ nhất thôn". Đây cũng chính là trung tâm sinh sống của hậu duệ Khổng Minh Gia Cát Lượng nổi tiếng thời Tam Quốc.

Dựa theo Bát quái trận đồ lập nên thôn


Vào cuối đời Tống, đầu nhà Nguyên (khoảng năm 1300), hậu duệ đời thứ 27 của Gia Cát Lượng là Gia Cát Đại Sư bắt đầu lập thôn Bát Quái tại Lan Khê, Triết Giang.

Theo sử chép, Gia Cát Lượng từng lập ra một trận pháp thần kỳ gọi là Bát trận đồ, biến ảo khôn lường, uy lực vô cùng, từng vây khốn cả 10 vạn tinh binh của đại tướng Đông Ngô Lục Tốn. Gia Cát Đại Sư đã vận dụng học thuyết Kham dư (phong thủy) vào Bát quái trận đồ của ông tổ mình, thiết lập thôn trang án theo Cửu cung bát quái.

Toàn cảnh thôn bát quái nhìn từ trên cao.

Thôn lấy cái hồ lớn (chung trì, nửa nước nửa đất) hình thái cực làm trung tâm, 8 con đường từ hồ toả ra thành "nội bát quái". Phía ngoài thôn lại đắp 8 tòa núi nhỏ hình thành "ngoại bát quái" bao bọc. Các sảnh, đường, nhà ở phân bố dọc theo 8 đường. Gia Cát Đại Sư trước khi qua đời có để di huấn là không được thay đổi nguyên dạng.

Trải qua hơn 800 năm dâu bể, lượng người trong thôn tăng lên nhiều, nhưng tổng thể cửu cung bát quái không hề thay đổi. Trong thôn có đền thờ Thừa tướng Gia Cát Lượng, hoa viên, ba nhà bia, 18 sảnh đường, 18 giếng, 18 ao, hơn 200 phòng ốc đều là kiến trúc cổ đời Minh, Thanh độc đáo.

Trung tâm thôn bát quái là một hồ nhỏ. có hình xoáy âm dương, còn gọi là hồ thái cực.

Con cháu Gia Cát đời đời đều theo lời giáo huấn của tổ phụ "không làm lương tướng, tất làm lương y" nên nhiều đời theo nghề thuốc.

Trong thôn có cả Nhà triển lãm trung y dược, vườn thảo dược... Nơi đây, riêng đời Minh, Thanh có 5 tiến sĩ, 11 cử nhân, hàng trăm tú tài. Các chuyên gia, học giả Trung Quốc đang đề nghị đổi Lan Khê thành Thành phố Võ Hầu (tước hiệu của Khổng Minh - Gia Cát Lượng).

"Đêm không cần đóng cửa, ngoài không nhặt của rơi"

Theo nhiều nhà nghiên cứu, kiến trúc bát quái này có công năng phòng vệ và cải tạo môi trường rất cao. Thôn Gia Cát đặc biệt mát mẻ, sạch sẽ, thông thoáng.

Nhà kiến trúc Từ Quốc Bình cho rằng, kiểu kiến trúc của thôn này hoàn toàn khác với phong cách thôn trang truyền thống Trung Quốc, không lấy trung tuyến làm chủ mà bức xạ ra 8 hướng.

Kiến trúc trong thôn bát quái.

Các nhà trong thôn mặt đối nhau, đuôi liền nhau, đường nối nhau, rất thoáng mà kỳ thực kín đáo. Địa hình xung quanh nhìn giống như cái nồi, bốn phía cao, giữa thấp. Người ngoài vào thôn, nếu không có người quen dẫn đường thì lẩn quẩn không biết lối ra.

Nhà thư pháp Gia Cát Cao Phong, cháu đời thứ 42 của Gia Cát Lượng cho biết, trong thôn "đêm không cần đóng cửa, ngoài không nhặt của rơi".

Năm 1925, chiến tranh ác liệt, quân đội của Quốc dân đảng là Tiêu Kính Quang đánh nhau với quân phiệt Tôn Truyền Phương ba ngày dữ dội sát bên thôn Bát Quái nhưng không có viên đạn nào lọt vào thôn. Khi quân Nhật tấn công xuống phía Nam, đại quân kéo qua đại lộ Long Cương nhưng không phát hiện ra thôn này. Duy có một lần máy bay Nhật ném bom trúng một phòng trong thôn.

Theo thống kê tại hội thảo "Nghiên cứu Gia Cát Lượng học" lần thứ 7 toàn Trung Quốc (10/1993), hậu duệ các chi của Gia Cát Lượng hiện có khoảng 16.000 người, riêng ở Lan Khê có hơn 6.000 người. Trong thôn này, hơn 4.000 người đều mang họ Gia Cát và xưng là "người mình" với nhau.


Thursday, September 3, 2009

How can I subset a data set? and Frequently Asked Questions about R

How can I subset a data set?

The R program (as a text file) for all the code on this page.

Subsetting is a very important component of data management and there are several ways that one can subset data in R. This page aims to give a fairly exhaustive list of the ways in which it is possible to subset a data set in R.

First we will create the data frame that will be used in all the examples. We will call this data frame x.df and it will be composed of 5 variables (V1 - V5) where the values come from a normal distribution with a mean 0 and standard deviation of 1; as well as, one variable (y) containing integers from 1 to 5.

x <- matrix(rnorm(30, 1), ncol = 5) y <- c(1, seq(5))  #combining x and y into one matrix x <- cbind(x, y)  #converting x into a data frame called x.df x.df <- data.frame(x) x.df           V1         V2          V3        V4          V5 y 1 -1.6862356  1.3950211  1.35898920 1.8492410  1.75368860 1 2  0.8610318 -0.5698281 -0.01984841 0.3570547 -0.93262483 1 3 -1.3736436  0.1280908  0.17866428 1.6930332  0.42080132 2 4  0.7557265  1.8622043 -0.29684582 1.0555782  0.09372863 3 5  0.6296957  1.7943359  2.16226397 0.1604166  0.37218504 4 6  0.4694073  1.3096533  1.90324318 1.9372227  1.43930020 5

In order to verify which names are used for the variables in the data frame we use the names function.

names(x.df) [1] "V1" "V2" "V3" "V4" "V5" "y"

Subsetting rows using the subset function
The subset function with a logical statement will let you subset the data frame by observations. In the following example the x.sub data frame contains only the observations for which the values of the variable y is greater than 2.

x.sub <- subset(x.df, y > 2) x.sub          V1       V2         V3        V4         V5 y 4 0.7557265 1.862204 -0.2968458 1.0555782 0.09372863 3 5 0.6296957 1.794336  2.1622640 0.1604166 0.37218504 4 6 0.4694073 1.309653  1.9032432 1.9372227 1.43930020 5

Subsetting rows using multiple conditional statements
There is no limit to how many logical statements may be combined to achieve the subsetting that is desired. The data frame x.sub1 contains only the observations for which the values of the variable y is greater than 2 and for which the variable V1 is greater than 0.6.

x.sub1 <- subset(x.df, y > 2 & V1 > 0.6) x.sub1          V1       V2         V3        V4         V5 y 4 0.7557265 1.862204 -0.2968458 1.0555782 0.09372863 3 5 0.6296957 1.794336  2.1622640 0.1604166 0.37218504 4

Subsetting both rows and columns
It is possible to subset both rows and columns using the subset function. The select argument lets you subset variables (columns). The data frame x.sub2 contains only the variables V1 and V4and then only the observations of these two variables where the values of variable y are greater than 2 and the values of variable V2 are greater than 0.4.

x.sub2 <- subset(x.df, y > 2 & V2 > 0.4, select = c(V1, V4)) x.sub2          V1        V4 4 0.7557265 1.0555782 5 0.6296957 0.1604166 6 0.4694073 1.9372227

In the data frame x.sub3 contains only the observations in variables V2-V5 for which the values in variable y are greater than 3.

x.sub3 <- subset(x.df, y > 3, select = V2:V5) x.sub3         V2       V3        V4       V5 5 1.794336 2.162264 0.1604166 0.372185 6 1.309653 1.903243 1.9372227 1.439300

Subsetting rows using indices
Another method for subsetting data sets is by using the bracket notation which designates the indices of the data set. The first index is for the rows and the second for the columns. The x.sub4data frame contains only the observations for which the values of variable y are equal to 1. Note that leaving the index for the columns blank indicates that we want x.sub4 to contain all the variables (columns) of the original data frame.

x.sub4 <- x.df[x.df$y == 1, ] x.sub4           V1        V2          V3        V4         V5 y 1 -1.6862356  1.395021  1.35898920 1.8492410  1.7536886 1 2  0.8610318 -0.569828 -0.01984841 0.3570547 -0.9326248 1

Subsetting rows selecting on more than one value
We use the %in% notation when we want to subset on multiple values of y. The x.sub5 data frame contains only the observations for which the values of variable y are equal to either 1 or 4.

x.sub5 <- x.df[x.df$y %in% c(1, 4), ] x.sub5           V1        V2          V3        V4         V5 y 1 -1.6862356  1.395021  1.35898920 1.8492410  1.7536886 1 2  0.8610318 -0.569828 -0.01984841 0.3570547 -0.9326248 1 5  0.6296957  1.794336  2.16226397 0.1604166  0.3721850 4

Subsetting columns using indices
We can also use the indices to subset the variables (columns) of the data set. The x.sub6 data frame contains only the first two variables of the x.df data frame. Note that leaving the index for the rows blank indicates that we want x.sub6 to contain all the rows of the original data frame.

x.sub6 <- x.df[, 1:2] x.sub6           V1         V2 1 -1.6862356  1.3950211 2  0.8610318 -0.5698281 3 -1.3736436  0.1280908 4  0.7557265  1.8622043 5  0.6296957  1.7943359 6  0.4694073  1.3096533

The x.sub7 data frame contains all the rows but only the 1st, 3rd and 5th variables (columns) of the x.df data set.

x.sub7 <- x.df[, c(1, 3, 5)] x.sub7           V1          V3          V5 1 -1.6862356  1.35898920  1.75368860 2  0.8610318 -0.01984841 -0.93262483 3 -1.3736436  0.17866428  0.42080132 4  0.7557265 -0.29684582  0.09372863 5  0.6296957  2.16226397  0.37218504 6  0.4694073  1.90324318  1.43930020

Subsetting both rows and columns using indices
The x.sub8 data frame contains the 3rd-6th variables of x.df and only observations number 1 and 3.

x.sub8 <- x.df[c(1, 3), 3:6] x.sub8          V3       V4        V5 y 1 1.3589892 1.849241 1.7536886 1 3 0.1786643 1.693033 0.4208013 2

Frequently Asked Questions about R

Wednesday, September 2, 2009

BỆNH KHÔNG BIẾT HỎI AI - Hôi nách



Nhân một bài viết về "Bột trị hôi nách" của 1 blogger. Tôi viết bài này một cách đại cương. 

Hôi nách là một bệnh vốn được coi là nan y, gây nhiều phiền toái trong cuộc sống, cho cả chủ nhân lẫn những người xung quanh. Bệnh vốn thường gắn với tăng tiết mồ hôi vùng nách, đôi khi cả những mồ hôi nơi khác như tay, mặt, đầu và chân. Tuy nhiên, tăng tiết mồ hôi nách và bệnh hôi nách có những điểm khác nhau cơ bản. Tăng tiết mồ hôi được cho là do cường chức năng hệ thần kinh giao cảm, và việc diệt thần kinh giao cảm ở những vùng tương ứng đã được chứng minh có tác dụng làm giảm hoặc mất việc tăng tiết này. Còn bệnh hôi nách lại do cường chức năng tuyến mồ hôi tại chỗ (tức vùng hố nách).

Tuyến bài tiết ở da của con người có hai loại: apocrine và eccrine. Eccrine được phân bố trên hầu hết vùng da của cơ thể và gắn liền với chức năng điều hòa thân nhiệt, nghĩa là khi cơ thể nóng thì nó tiết nhiều và ngược lại (dĩ nhiên ngòai điều hòa nhiệt độ nó còn chức năng khác nữa). Apocrine thì lại khác, nó chỉ được phân bố ở vùng nách, vùng da sinh dục và vú. Đôi khi nó cũng được tìm thấy ở quanh hốc mắt và quanh ống tai ngoài.

Apocrine không có liên quan gì đến việc điều nhiệt mà chịu trách nhiệm sản sinh ra mùi… con người, là mùi để đồng loại nhận ra nhau và quyến rũ lẫn nhau. Người ta nói "vợ chồng quen hơi" chính là quen mùi này. Nhưng khi mùi này nặng quá lại thành phiền toái.

Ngoài việc do cường chức năng tuyến apocrine, bệnh hôi nách còn do tác động của vi khuẩn vùng nách. Vi khuẩn phân hủy sản phẩm tiết của apocrine thành amoniac và các acid béo chuỗi ngắn, những thứ gây ra mùi khó chịu. Nhưng, để acide béo ấy bị phân hủy bỡi vi khuẩn hoặc nấm ở vùng da nách của những người có mồ hôi có độ pH thấp (pH acide < 7.0, bình thường mồ hôi người có độ pH # 7.1-7.2). Yếu tố thứ 2 là kèm thêm mồ hôi có pH thấp. Một số vi khuẩn và nấm thường trú trên da dễ sinh sôi ở pH thấp. Nếu 1 người có mồ hôi chua thường bị hôi nách là vậy. Vì vi khuẩn sẽ phân hủy acide béo có trong mồ hôi thành ra một số hợp chất như: aldehyde, ester và có thể có cả urea ... Các tạp chất này có mùi khắm. Nên sẽ tạo ra mồ hôi mùi hôi.

Cách chữa trị về mặt nội khoa rất đơn giản mà bất kỳ thầy thuốc nào cũng làm được là làm phản ứng trung hòa của mồ hôi vùng nách trỡ lại tính kiềm 1 chút là tự động 1 số lòai nấm hoặc vi trùng thường trú biến mất và sự tạo thành các chất có mùi hôi do vi khuẩn và nấm tạo ra sẽ không còn nữa. Trong dân gian, hợp chất Al2(SO4)3 là Sulphate Nhôm có hóa trị 3 ngậm 18 phân tử nước: Al2(SO4)3 12H2O còn gọi là phèn chua. Khi nướng nó lên sẽ cho ra Al2O3 (Oxide Nhôm có hóa trị 3). Thường trong phèn chua có thêm K2SO4, nên khi khi nước sẽ có 2 lọai Oxide Nhôm và Kali (Potassium oxide). Dùng bột này thoa lên vùng nách khí tác dụng với nước sẽ cho ra Al(OH)3 và KOH là 2 bazơ làm cho mồ hôi người bệnh hôi nách sẽ có tính kiềm và vi khuẩn cũng như nấm không phát triễn nữa và không hôi nách. Nhưng, nếu người bệnh có mồ hôi chua thì chứng hôi nách sẽ tái phát khi có stress hay lo lắng ... Nên phương pháp này khg chữa hết được hôi nách vĩnh viễn mà chỉ tạm thời. Phương pháp thứ 2 là phẫu thuật cắt hạch giao cảm để chống tiết mồ hôi vùng nách thì sẽ không còn hôi nách. Phẫu thuật là phương pháp triệt để hơn dùng bột phèn chua nướng.


Lớp trưởng...kiểu Đức

,

Phải chăng chính nền giáo dục của họ ngay từ lớp 1, lớp 2 đã làm lớn dần lên những Merkel, Obama, Bush, Clinton, Schröder... cho đất nước?

tre binh thuong
Ảnh: Bảo Anh.
Tôi có cháu gái đằng vợ tên là Thanh Hòa. Từ ngày học mẫu giáo, cháu vốn khoẻ mạnh, cứng cáp và thông minh. Khi cả bọn cùng lứa với kéo nhau lên lớp 1 trường Phan Phù Tiên, quận Thanh Xuân, Hạnh đương nhiên vẫn là đầu đàn, là lớp trưởng.

Gặp nhau năm Hòa lên lớp 2, vẫn với thành tích học tập tốt, vẫn lớp trưởng, qùa thưởng dịp đó rất to. Vui chuyện, hỏi cháu về nhiệm vụ lớp trưởng, Hòa bẽn lẽn: nào hô các bạn đứng dậy chào thầy cô, nào lo trực nhật, lau bảng, nhắc các bạn giữ trật tự trong lớp... nhiều lắm!

-         Thế khi gặp các bạn ẩu đả, nghịch ngợm, chế diễu nhau ngoái lớp thì làm sao?- Bố Hòa hỏi chen vào.

-         Thì báo cho cô chủ nhiệm biết, ạ.

-         Thế lớp trưởng mắc khuyết điểm, có bạn nào mách cho cô giáo không?

-         Có mà dám!

Nghe cháu trả lời, cả nhà nhìn nhau, lặng người, cười.  

*

Phương Hiền, con gái tôi, học lớp 2 trường Friedrich-Reimann-Grundschule. Cô chủ nhiệm là bà giáo R.Lipka.

Đã vài lần gặp gỡ nên tại buổi họp phụ huynh đầu năm, từ ngoài cửa, bà đã tươi cười chào: "Lần này , ông có ý kiến gì góp cho lớp đây? Chúng ta có một giờ để trò chuyện cơ đấy!".     

Khi đến lượt trao đổi trực tiếp, tôi hỏi: "Thưa bà, lớp 2A, cháu nào được chọn là lớp trưởng?"(cũng phải nói thêm do khả năng tiếng Đức mà tôi đã dùng từ "lớp trưởng" theo nghĩa hiểu của tiếng Nga, hoặc tiếng Hán Ban trưởng mà người Việt ta lâu nay vẫn hay dùng).

Thoáng một chút trầm ngâm, bà R.Lipka vui vẻ nói: "Tôi nghĩ là tôi đã hiểu câu hỏi của ông. Vì qua Phương Hiền được biết, ông từng là một đồng nghiệp. Lớp chúng tôi không có học sinh nào được chọn làm Obmann hay Chef cả. Ở tuổi cấp một, chúng còn qúa bé để phải chịụ thêm trách nhiệm về hành vi của một bạn khác, dù chỉ là nhắc nhở hoặc để ý rồi trình báo với thầy cô. Nếu phải chịu trách nhiệm thêm về một bạn khác, đứa trẻ dễ ngộ nhận nó có thêm quyền lực và ngược lại đứa bị giám sát  sẽ có cảm giác yếm thế, lệ thuộc. Tất nhiên chữ "nếu" chỉ là hãn hữu, nhưng dù 1% chúng tôi cũng không cho phép xảy ra. Tôi nhận thêm lương giáo viên chủ nhiệm để chịu tòan bộ trách nhiệm về họat động của học sinh trong thời gian học tại trường. Trong lớp, mọi em đều được cô giáo phân công trách nhiệm với lớp như nhau".

Rồi bà giáo hơi mỉm cười, hỏi: "Theo ông, khi các vị phu huynh đều đóng phần thuế học cho con bằng nhau, ông có chấp nhận  khi con ông bạn hàng xóm tự nhiên lại là "trưởng" của con mình không? Tất cả các vị phụ huynh của chúng tôi đều không chấp nhận, họ đòi hỏi sự công bằng. Mới vào lớp 1, lớp 2 mà đã có đứa được là "sỹ quan", đứa là "lính" ư?  Xin ông nhớ rằng, dù có tạo ra được một thủ lĩnh thì chúng ta đã đồng thời tạo ra một loạt những đứa nhút nhát và a dua, phụ thuộc thủ lĩnh. Đấy là chưa kể đứa trẻ - được tin cậy kia có nguy cơ bị nhiễm thêm thói xấu: nhòm ngó, mách lẻo, chỉ điểm... Giai đoạn đầu giáo dục cấp một, giúp hình thành chứ không nên định hình tính cách của trẻ. 

R.Lipka liếc nhìn đồng hồ: "Giải đáp câu hỏi như vậy có đúng ý ông?".

Tôi thành thật trả lời rằng rất muốn được nghe bà nói tiếp. Bà cười hiền hậu: "Tất nhiên, đề tài này phải có kết luận! Ông nên biết, khi làm đơn xin tiếp tục nghề dạy tiểu học, tôi đã bảo vệ chính đề tài này tại  Hội đồng Phổ thông trung học. Tôi hiểu ngay câu hỏi của ông, vì chính chúng tôi cũng đã qua thời kỳ chuyển hoá Đông- Tây về giáo dục!".

 *

Từ năm lớp 5, trách nhiệm của giáo viên chủ nhiệm với lớp vẫn nặng nề như thế. Nhưng do học sinh đã lớn lên, cứng cáp hơn, nề nếp sinh hoạt, tư duy đa dạng nên trong tổ chức của lớp có thêm một chức danh là Klassensprecher. (Xin dịch là "Phát ngôn viên của lớp").

Vì là  chức danh nên nhất định Klassensprecher phải do lớp bầu với đa số tín nhiệm (không cần sự có mặt của các thầy cô).

Mọi học sinh trong lớp đều có quyền tự ứng cử họặc vận động bè bạn bỏ phiếu cho mình. Klassensprecher là cầu nối chỉ truyền đạt những thông tin được các bạn nhờ chuyển đến thầy cô hoặc ngược lại, không được truyền những thông tin cá nhân không được nhờ. (Nếu vi phạm bị coi là mách lẻo hoặc xâm phạm đời tư!).

Đề tài "Lớp trưởng" tưởng chỉ là một bài học có tính giáo dục, làm thay đổi tư duy bảo thủ của một nhà giáo cổ hủ, giáo điều như tôi.

Không ngờ, 5 năm sau, khi Phương Hiền vào học lớp 7, tôi lại được chứng kiến sự dân chủ, công bằng và rất giáo dục trong môi trường đào tạo của con mình qua đề tài đó.

Đây là cảm xúc chính để tôi kể lại câu chuyện cho bạn đọc hôm nay:

Học kỳ hai của lớp 7B trường trung học chuyên Charles-Darwin-Oberschule (Gymnasium), quận Trung tâm – Berlin.

Chiều nay, Phương Hiền tỏ ra đăm chiêu, ngồi cắm cúi viết . Thấy con bức xúc, tôi hỏi thì được biết: Jonoar phát ngôn viên lớp 7B phải theo mẹ hồi hương về Cu-ba nên lớp cần bầu một người thay thế. Đã có ứng viên là Magir - một bạn gái da mầu gốc Phi. Magir thành thạo tiếng Pháp - môn ngoại ngữ thứ hai mà nhiều bạn học còn yếu. Magir có năng khiếu bẩm sinh về hoạt động thể dục thể thao. Lời cam kết trước các bạn khi đề nghị bỏ phiếu cho mình của Magir là "Tôi sẽ liên hệ để có sự giúp đỡ của cô giáo dạy tiếng Pháp. Mỗi tuần lớp sẽ có một buổi hội thoại chủ đề Pháp ngữ tại Thư viện quận Trung tâm. Năm nay, trong tuần ngoại khóa, nếu các bạn ở lớp đồng tình, được cô chủ nhiệm chấp nhận, lớp sẽ chọn Paris là địa điểm đi tham quan dã ngoại giáo dục. Tôi xin chuẩn bị đề cương tham quan bằng tiếng Pháp và in gửi trước cho các bạn. Bản thân tôi cam kết sẽ hợp tác với các bạn trong lớp, nâng điểm tóan lên 2,5 để điểm trung bình các môn của tôi trong năm là 2,5. Ngoài ra, về thể dục thể thao, tất nhiên học kỳ này, lớp ta phải có một tờ thông báo nóng hổi WM 2006 tại Đức".

Đọc tờ rơi cam kết của ứng viên, tôi hỏi con gái:

- Magir như vậy, Phương Hiền sẽ thế nào?

- Con thích được thử sức. Trường con chưa có bạn người Việt nào nhận chức danh này. Nhiều bạn trong lớp đề cử con. Chúng nó bảo con cần viết Rede Wahl versprechen (lời cam kết của ứng viên chức danh phát ngôn viên).

- Tự con đánh gía về mình thế nào? 

- Con tự  tin. Con có học lực tốt nên có thể giúp đỡ được nhiều bạn về môn Toán, Đức văn, Điạ lý, Anh văn.

Còn môn lịch sử,con có thể có thêm sự giúp đỡ của bố để giúp lại các bạn.

- Hoạt động ngoại khóa?

- Tất nhiên chọn Paris làm tuần tham quan giáo dục là tuyệt vời. Chính Magir có thể cộng tác với con và các bạn trong nhóm Tây Âu học. Có hai ngày cắm trại dã ngoại, cô giáo rất ủng hộ việc đi chơi mỏ muối Eisenach và thăm nơi Hitler đã cất giấu hàng vạn bức tranh quý của các bảo tàng chúng cướp được trong chiến tranh.

Ngập ngừng một chút, Phương Hiền thổ lộ thêm một "chi tiết tranh cử" làm tôi bật cười: "Bố ạ,  cả lớp con bỏ phiếu kín về món ăn khoái khẩu nhất  - 83% phiếu kín khi mở ra ghi là "PHO". Các bạn sẽ góp tiền, nhờ bố giúp con, nói chú Hoàng chuẩn bị trước, một hai lần vào thứ 7 nào đấy, cả lớp đến  ăn. Sẽ rất vui phải không bố? 

Chuyện "lớp trưởng" đã đến đoạn kết. Hình ảnh các ứng viên tổng thống Mỹ dốc hết trí tuệ (kéo theo cả vợ con) để thu phục nhân tâm cử tri Mỹ trong các chiến dịch tranh cử cam go, công bằng cứ hiện lên trong óc tôi.

Phải chăng chính nền giáo dục của họ ngay từ lớp 1, lớp 2 đã làm lớn dần lên những Merkel, Obama, Bush, Clinton, Schröder... cho đất nước? Lớp 7B của con gái tôi , liệu mai này có ra đời những thủ lĩnh chân chính từ Klassenspecher?

*

Cháu gái Thanh Hòa kể cả mẫu giáo -đến nay đã 11 năm làm lớp trưởng. Tôi thầm hỏi tương lai của "lớp trưởng chuyên nghiệp" sẽ ra sao? Có "nghề lớp trưởng" rồi, sẽ giúp  cho cháu gái tôi có được lợi thế gì khi các kỳ thi sắp tới?! 

(Viết nhân khai giảng năm học  2009 - 2010)

  • Trần Đình Ngân (Đức)

Tuesday, September 1, 2009

Chuyện nhà bạn- Về nhà văn Trang Hạ

Entry for August 27, 2007

Hôm nay mò vào blog của em Trang Hạ đọc, giật mình thấy em ý lăng xê mình. Nghĩ đi nghĩ lại hay em ấy đùa. Em này hay đùa nhưng cái blog vốn là chỗ em ấy giao lưu với các bạn hâm mộ, mà cái entry đó là trả lời phỏng vấn. Cho nên mình nghĩ em ấy chả đùa tí nào cả

* Nếu kể tên 5 nhà văn trong nước chị yêu thích, chị sẽ kể tên ai?

 

À, hồi nhỏ tôi thích Đinh Tiến Luyện ghê lắm. Lớn một chút thích Đoàn Thạch Biền, sau rồi thích Mường Mán. Sau nữa tôi thích văn một người không phải nhà văn, tên là Bùi Thanh Hiếu, bởi những văn viết trên mạng TTVN và cả những gì anh viết sau này. Giờ tôi thích văn một người tên là Trang Hạ.

Thế là ngồi sướng âm ỉ, nghĩ mãi cái nguyên nhân em Trang Hạ xinh đẹp, chân dài kia nêu tên mình lên làm gì. Văn của mình thì thuộc loại tự sự, lủng củng chưa thấy ma nào khen. Bỗng dưng hôm nay được nhà văn Trang Hạ khen mấy câu. Cũng phải nghĩ lý do chứ.

Hồi ấy em TH hay vào TTVN, mình và em ấy quen nhau trên đó. Dạo đó mình viết tràn lan đủ các loại linh tinh thập cẩm. Sau vài lần PM thì hẹn nhau đi uống cà phê. Hẹn gặp nhau ở cà phê Lâm. Mình không uống cà phê mấy, chả biết chọn quán nào để gặp em cho cá tính một tí. May sao chợt nhớ là gần nhà có cái quán cà phê 58 Nguyễn Hữu Huân hình như cũng nổi tiếng, thế là hẹn gặp em ở đấy. Hôm ấy em mặc chiếc duyp ngắn lộ đôi chân thon dài thẳng tắp, nhưng thề với tất cả là mình chẳng để ý gì đến giò em ấy. Buổi gặp gỡ rất vui vẻ vì toàn người lớn cả, gặp nhau nói chuyên vui trên mạng. Không có ý tứ tán tỉnh ve vãn gì nên rất tự nhiên ( nghĩ lại hơi tiếc, giá như lúc ấy tán luôn thì còn có cơ). Em ấy nói em làm báo , viết văn, từng ở trong hội bút Hương đầu Mùa của báo Hoa Học Trò . Em ấy hỏi mình có biết không. Mình trả lời là chưa đọc, không nghĩ em ấy là nhà văn. Khổ nỗi mình là thằng bờ bụi, giang hồ có đi học hành đến chốn đâu mà được đọc báo ấy. Mình chỉ đọc báo An Ninh Thủ Đô, Công An Nhân Dân xem có đồng đội nào sa lưới không và bọn công an làm ăn thế nào mà thôi. Sau buổi đó chia tay, mình gặp em Quyên My, em Quyên My nói là hội Bút Hương Đầu Mùa ngày trước nổi tiếng lắm. Em ý lại hâm mộ chị Trang Hạ. Mình mới hoảng, hoá ra lúc trước gặp quý nhân mà không biết.

Lúc đó em Trang Hạ đang làm ở báo Tiền Phong. Một buổi trưa hẹn gặp nhau, em TH bảo đến toà soạn nơi em làm việc. Mình mặc quần sóc , áo phông cộc tay đứng ngoài cổng toà soạn nhắn tin cho TH. Tưởng em ra đi đâu uống nước, nào ngờ em ấy bảo việc gì phải đi đâu. Vào luôn toà soạn có nước và điều hoà nhiệt độ không hơn à. Em ấy dẫn mình qua cổng bảo vệ, đi thẳng vào sảnh toà soạn, rẽ vào phòng khách mát rượi, mời ngồi ghế salon bảo người tạp vụ đi pha trà Lipton đá cho mình uống. Ngồi luyên thuyên vài câu, nhìn thấy toà soạn báo toàn người lịch sự ra vào. Có tay Sơn nào đó hình như là xếp ở báo Tiền Phong đi qua. TH trỏ mình giới thiệu là cộng tác viên, tay Sơn gật đầu chào niềm nở lắm. Mãi sau này mới biết tay ấy hình như cũng là cây bút phê bình hay gì gì đó. đại khái là cộm cán trong văn đàn, báo giới. Uống nước xong kéo nhau đi ăn cơm trưa, vào đến nhà hàng em ấy bảo một câu làm mình thấy ngượng vì tính cẩu thả của mình.

- anh biết không, lần đầu tiên em đi vào nhà hàng với một người đàn ông mặc quần soóc đấy.

Mình đành xuê xoa

- Những người đó là vì công việc, hay những người tán tỉnh em. Anh với em là anh em bạn hữu với nhau. Anh đi với em tư cách không giống những người đàn ông đi với em.

Trang Hạ cười xoà, thế là từ đó không kết nghĩa nhưng trong lòng đã nhận nhau làm anh em. Có lần gặp hai vợ chồng Trang Hạ, anh chồng uống rượu ác chiến lắm. Uống tì tì mà không hề biến sắc, còn mình thì chào thua luôn từ chén đầu. Về sau công việc nhiều, em Trang Hạ lại đi Đài Loan ít có dịp gặp. Dạo nọ nghe người ta nói em ấy về nước, biết em bận nhiều chả có thời gian. Nhưng muốn gặp xem gầy béo thế nào, còn xinh tươi như xưa không bèn gọi hú hoạ. Nào ngờ em ấy cho phép mình gặp ngay. Hai anh em ngồi uống trà mạn mà điện thoại em cứ réo liên tục. Mới biết em ấy trọng tình nghĩa lắm mới bỏ thời gian ngồi với mình hàn huyên.

Còn cái việc hôm nay cô nàng khen mình trên cái blog hàng nghìn lượt đọc một ngày kia, chắc là cô em vì quý anh mà tranh thủ cài mấy câu lăng xê ông anh mà thôi. Gọi là đông viên ông anh ba hoa viết lách trong thời gian nhàn nhã, khỏi phải cờ bạc, đàn đúm làm việc vi phạm pháp luật mà thôi. Dẫu sao em ấy cũng có chút nghĩ đến cố nhân, bạn bè cũ. Điều mà khối kẻ trong thiên hạ ngày nay khi đạt được chút ít danh vọng đã vội quên.

Đối với tôi, Trang Hạ tuy là phụ nữ. Nhưng từ hồi quen nhau, tôi nhận thấy cô ấy có nghĩa khí như một bậc nam nhi.

Friday August 24, 2007 – 08:58pm (ICT)

———————————-

 

Thứ ba, ngày 11 tháng mười một năm 2008
Chuyện nhà bạn.

Bạn mình ( hay là cô em, con em gì gì cũng được) làm nghề viết. Có đứa con gái lớn 8 tuổi. Tuần trước thấy thiếu thiếu cái gì. Bèn nhân lúc nắng ráo , trời đẹp sinh thêm thằng con nữa cho có nếp, có tẻ. Hay như chồng bạn ý nói " để ra tòa có cái mà chia".

Chồng bạn ấy kém mình một tuổi. Lần thứ nhất mình gặp cậu ta trong một buổi rượu ở nhà người khác, lần sau ở nhà mình, lần sau nữa thì ở quán ngoài đường chỗ ga Trần Quý Cáp.

Cậu này trước làm nghề in, tay nghề rất giỏi. Cô vợ làm báo. Chả biết nhà báo mò đến xưởng in hay là thợ in đến tòa soạn lấy bản bông. Nói chung cái lão Tơ cũng kèm nhèm hay rượu. Lão ấy cứ vớ hai đẩu chỉ mà tết với nhau. Như là nhà cái xóc bát đĩa, ngửa tư sấp ba bên nào thì bên ấy được. Kể thì tù mù, sanh chính nhưng cũng có cái hay.

Đêm ấy mình rất cần in mấy hộp các vi dít cho mấy ông đàn anh. Đúng là là là loại đàn anh chuyên bắt nạt, nửa đêm sai đi in các. Đến in lưới đã khó, đằng này đòi in bản kẽm cơ. Bí bách quá chợt nhớ đến chồng cô em. Gọi điện lúc 11 giờ đêm mùa đông thấy bảo chồng em đang uống rượu ngoài ga, anh ra đấy là thấy.

Ra đến nơi thây cơ man là quán nhậu, ngó mãi thấy ông thợ in. Mặt mũi tưng bừng đang hò hét đốc thúc cả hội nhậu chừng chục chú nâng cốc. Ghé vào chưa nói gì cậu ta đã rót chén rượu cho. Nhắm mắt làm một hơi rồi trình bày việc gấp. Cậu ta gật gù.

- Anh làm chén rượu này, bát phở này cho ấm người chắc dạ. Thì mới làm việc được. Đâu sẽ có đó. Anh không phải lăn tăn.

Không lăn tăn. Nửa đêm thế này, các ông anh đang ngồi lo sốt vó chốc lại nhắn tin. Tin nhắn lại nói là " anh em trông chờ vào khả năng của mày, không có mai họp khách hàng hỏng hết viêc". Mình kiên nhẫn đợi cậu thợ in khề khà hết tuần rượu này, đến tuần rượu khác. Rồi trong đám đó có người nói.

- Thôi đi đi, để ông anh kia ngồi chờ ông lo đến tái mặt kia kìa.

Lúc ấy cậu thợ in mới chịu dừng. Hai anh em đi lang thang tìm hàng nào để in bản can. Ra đến Hàng Điếu bị nó chặt gấp 8 lần cũng đành chịu. Rồi mò xuống tận Đền Lừ vào tít cái ngõ tìm xưởng in. Xuống đên nơi bản can không chất lượng, lại phải đi tìm bút để tô lại từng nét. Đêm tối tô hỏng mẹ nó cả bản gốc. Lại mò đi lên mạn Hoàn Kiếm tìm chỗ in can. Có chỗ in thì lại không có giấy can, đi mua giấy can ở Lý Thường Kiệt về nhà bạn in nhờ. Chạy lại chỗ xưởng in thì 2 giờ đêm. Bắt đầu phơi bản kẽm chạy màu lần 1. Thì cái hội xưởng in rủ đánh bài chắn ăn tiền. Cậu thợ in nghe thấy vậy xừng xực ngả bài ra chia. Đêm ấy thế nào mà cậu ta toàn ù bạch định, tám đỏ mình cũng ù mấy ván to. Kết thúc hai anh em được hơn triệu rưởi, trả tiền in các hết 120 nghìn. Mình áy náy quá, định bảo cậu ấy trả. Cậu ấy bảo cờ bạc sòng phẳng, làm ăn là làm ăn. Nó định thịt anh em mình không được thì nó chết. Đời là thế.

Cậu ấy trả tiền in các cho mình, xong đưa thêm mình 500. Mình cầm mấy hộp các đã sướng run bần bật, làm gì mà dám cầm thêm tiền nữa.

Ông thợ in chồng cô em ấy lại có máu chơi gà chọi. Vợ chăm chỉ kiếm tiền, chồng thì chỉ chú đầu vào gà. Lần vợ đẻ đứa thứ nhất, trong nhà không có tiền. Vợ bảo bán gà nhất quyết không. Sau con gà ấy lăn ra chết. Sau 10 năm chung sống cô vợ rút ra kinh nghiệm thế này.

- Cứ con gà nào người ta trả giá cao không bán, sau đó thế nào cũng lăn ra chết.



MỌI ĐIỀU RỒI SẼ TỐT ĐẸP…Nhà thơ Trần Đăng Khoa

Nhà thơ Trần Đăng Khoa

MỌI ĐIỀU RỒI SẼ TỐT ĐẸP…

 

Hồng Thanh Quang thực hiện

                                     

Phóng viên (PV): Thực sự khi mới nghe chuyện Đài Tiếng nói Việt Nam thành lập Hệ Phát thanh có hình, tôi cảm thấy hơi buồn cười vì không hiểu Phát thanh có hình khác với Truyền hình có tiếng như thế nào. Anh với tư cách là người phụ trách công việc ấy liệu có thể cho biết, suy cho cùng, với chương trình phát thanh có hình của mình như vậy, Đài Tiếng nói Việt Nam muốn đạt mục đích gì?

Nhà thơ Trần Đăng Khoa (NT TĐK):  Muốn tiếng nói của mình đến được với tất cả mọi người, đặc biệt là với những người, cùng một lúc, muốn tai nghe và cũng muốn mắt thấy… Tai nghe rồi, phải mắt thấy nữa mới khoái, mới đủ độ tin, mới đủ độ cần thông tin. Đúng không? Mà cái đó lại rất chính đáng. Vậy thì sao lại không? Không đáp ứng được nhu cầu ấy của nhân dân là mình có lỗi to rồi! Vì vậy mà Hệ phát thanh có hình tất yếu phải được sinh ra…

PV: Một phương tiện thêm vào để truyền tải ý tưởng và tinh thần của Đài Tiếng nói Việt Nam?

NT TĐK:  So với trước thì nó là "thêm vào". Nhưng khi có nó rồi, thì nó là một bộ phận trong tổng thể không thể tách rời, thành ra, như tôi thấy, không có cái gì là thêm, cũng chẳng có cái gì là bớt nữa. Nghĩa là nó phải "vừa vặn cắn cưa" như thế mới phải. Cứ nói "thêm vào", là tôi lại nhớ đến ở nhà tôi, nấu nồi riêu cả rất ngon rồi, mẹ tôi cứ phải "thêm vào" tí mì chính cánh… nữa mới yên lòng… Như anh đã biết đấy, Đài Tiếng nói Việt Nam là một cơ quan truyền thông đa phương tiện, bao gồm: Báo nói, báo in, báo mạng, báo hình. VOVTV là báo hình, một sáng kiến mới của Tổng Giám đốc Vũ Văn Hiền, cùng lãnh đạo Đài. Hơn nửa thế kỷ qua, Đài Tiếng nói Việt Nam đã trở thành người bạn đường tin cậy của nhân dân qua các chặng đường lịch sử, đặc biệt là trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ Quốc vĩ đại, lúc ấy còn chưa có truyền hình. Người lính ra trận với khẩu súng dùng riêng và cái đài bán dẫn nhỏ xíu dùng chung cho cả trung đội. Sức mạnh làm nên chiến thắng rất to lớn, có phần đến từ cái đài mang theo bé xíu ấy của đơn vị… Bây giờ, sau hơn 30 năm hoà bình, cùng với đời sống văn hoá của cộng đồng được nâng cao, Đài Tiếng nói Việt Nam vẫn đến được với mọi người dân ở từng ngõ ngách vùng sâu, vùng xa, nhưng có những người dân thành phố lại mất thói quen nghe đài, họ chỉ xem truyền hình thôi. Âu cũng là điều dễ hiểu. Ví như anh đàn ông, quên người vợ " tao khang" thuở hàn vi ở nhà, mà cứ cười tươi với các cô bồ nhí mới mẻ thơm tho (cười) …Qua VOVTV, Đài sẽ tìm lại được cố nhân đấy…

PV: Tôi hiểu rồi. Tôi có cái ý nghĩ như thế này, không biết có đúng hay không: Trước đây, chúng ta phân ra các cơ quan thông tin đại chúng theo loại phương tiện thể hiện những ý tưởng, truyền bá những thông tin, thí dụ như báo giấy, báo nói, báo hình... Giờ đây, với sự xuất hiện của cái gọi là phát thanh có hình của Đài Tiếng nói Việt Nam thì thực sự đã bắt đầu một giai đoạn phát triển mới, theo quan điểm của tôi, trong lịch sử báo chí cách mạng Việt Nam. Tức là sao? Tức là các cơ quan truyền thông của chúng ta sẽ càng ngày không khác nhau bởi mỗi một cơ quan báo chí, mà có thể gọi là tập đoàn truyền thông hay là một trung tâm truyền thông, chúng ta không khác nhau bởi phương tiện, vì phương tiện của chúng ta càng ngày càng đa dạng hóa và rất giống nhau, đạt mức tối đa có thể, nhưng chúng ta khác nhau bởi phong cách, bởi cách thể hiện, bởi tư duy, trí tuệ của từng tập thể cán bộ phóng viên, ở cái đầu của những người lãnh đạo các cơ quan này... Và sau một quá trình phát triển như vậy thì không thể chỉ thỏa mãn với một loại phương tiện cập nhật là cứ phát sóng lên giời, mà Đài Tiếng nói Việt Nam thấy rằng, mình có đủ lực lượng để thực hiện nhiệm vụ chính trị xã hội của mình bằng nhiều phương tiện khác, và đấy là một cách gợi ý rất tốt cho các cơ quan truyền thông khác của Việt Nam phát triển. Theo anh, tôi nghĩ thế có đúng không?

NT TĐK: Rất đúng. Rất đúng. Anh đã nói thay tôi rồi đấy. Tôi nghĩ đó là điều cần thiết đối với một đất nước đang phát triển, như nước ta...

PV: Chúng ta có thể độc quyền phong cách của chúng ta, độc quyền trình độ của chúng ta, văn hóa của chúng ta, nhưng không ai có thể độc quyền phương tiện, phương tiện là bình đẳng giữa các cơ quan truyền thông?

NT TĐK: Bởi vì không ai "độc quyến" tai và mắt. Phải có nhiều cái hay cho người ta nghe, nhiều cái đẹp cho người ta nhìn. Đất nước càng phát triển, xã hội càng văn minh thì lại càng phải như vậy.

PV: Mà cái đấy mới là cách phát triển đúng đắn của báo chí Việt Nam, đấy là hướng đi đúng cần phải ủng hộ.

NT TĐK: Đúng vậy! Đó là hướng đi hoàn toàn đứng đắn...

PV: Tôi hiểu rồi. Anh từ tư cách một nhà thơ, một chiến sĩ đích thực rồi từ đấy chuyển sang quản lý VOV truyền hình này, anh thấy có gì khác so với khi anh còn quản lý Ban Văn nghệ?

NT TĐK: Tất nhiên rất khác rồi. Công việc của Ban Văn nghệ nhà Đài chủ yếu là truyền tải những tác phẩm văn học nghệ thuật bằng âm thanh đến với công chúng. Còn bây giờ kênh TV VOV thì nó là một kênh Tổng hợp, bao gồm tin tức chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội trong nước và quốc tế. Trong đó văn nghệ chỉ là một phần…Vừa rồi, chúng tôi cũng chỉ mới làm được một việc là …thông sóng…

PV: Giai đoạn gọi là chạy rốt-đa đấy...

NT TĐK: Nghĩa là mới thông sóng thôi. Sắp tới, chúng tôi phải cải tiến, nâng cao trong một tổng thể, để nó tự trụ vững trong đời sống báo chí và trong mọi hoạt động tinh thần của toàn xã hội.

PV: Truyền hình theo nghĩa thông thường của nó...

NT TĐK: Không hẳn là truyền hình nhưng lại không được xa lạ với người thường xem truyền hình. Bởi vì kênh này chúng tôi phát chung trên hệ thống truyền hình, cả Cáp và analog, nghĩa là với bất cứ ai, nếu muốn, đều có thể bật kênh truyền hình của chúng tôi ra mà xem được. Và như thế, chúng tôi phải đứng bên cạnh, cùng tồn tại, với tất cả các kênh chuyên truyền hình, nếu như có cái gì đó xa lạ, lạc lõng thì người ta sẽ không xem mà giống như kênh này, hãng kia, thì người ta cũng không xem. Cái khó của chúng tôi là ở chỗ đó.

PV: Cũng phải bằng anh, bằng chị, bằng em...

NT TĐK: Và ít nhiều, cũng phải khác chị, khác em. Hiện nay chúng ta có quá nhiều kênh truyền hình. Cả Trung ương và địa phương. Ngay Trung ương còn có cả Truyền hình Cáp, Truyền hình Kỹ thuật số, rồi truyền hình của 64 tỉnh thành, mỗi tỉnh thành lại có nhiều kênh. Tất cả đều rất chuyên nghiệp. Nếu không có đóng góp riêng, không có vóc dáng riêng, không thể tồn tại được. Làm sao có được nét riêng nhưng lại phải không được xa lạ...

PV: Với nhịp điệu của truyền hình hiện nay... Khi gọi là phát thanh có hình thì đấy là cách gọi ban đầu để người ta quen dần thôi. Thực ra đấy là một kênh truyền hình của Đài Tiếng nói Việt Nam, của tập thể những người làm báo của Đài Tiếng nói Việt Nam.

NT TĐK: Nhưng như tôi đã nói ở trên, nó là kênh hình của Đài phát thanh, so với truyền hình, nó phải khác, nhưng khác như thế nào thì chúng tôi đang tìm ra và chắc sẽ có câu trả lời. Vì không trả lời được, thì không tồn tại được. Cũng có thể bạn xem chương trình của chúng tôi, bạn đã thấy có điều khác gì đó... Chúng tôi đang cố gắng.

PV: Các anh nghĩ ra một khái niệm là phát thanh có hình và trong quá trình biến khái niệm ấy thành thực tế thì vừa làm vừa tạo ra nội hàm của nó. Các anh đang xây dựng nội hàm cho các anh.

NT TĐK: Tôi đã nói rồi, chỉ có thế mới tồn tại được...

PV: Tức là sống rồi sẽ biết (cười).

NT TĐK: Hi vọng là như thế, được thế.

PV: Chắc công việc này cũng chiếm của anh khá nhiều thời gian?

NT TĐK: Tất nhiên rồi, hầu như tất cả, rất vất vả. Tất nhiên không phải chỉ một mình tôi…

PV: Tôi muốn hỏi, thế anh bận bịu với công việc viên chức của mình, rất đúng thôi, công chức thì ai cũng thế, tôi cũng thế, anh cũng thế, thì thời gian đâu mà anh dành cho chức phận của một nhà thơ được cộng đồng các nhà văn, nhà thơ Việt Nam tín nhiệm bầu vào Ban chấp hành Hội Nhà văn?

NT TĐK:  Giữa những bức tường làm nên một ngôi nhà, vẫn có cửa lớn, cửa nhỏ, đó thôi. Những bức tường là việc của tôi ở Đài, còn cái cửa ra vào là chỗ tôi đi về ở Hội Nhà văn, cái này không hề che lấp hoặc làm phương hại cái kia. Tất nhiên, ở Hội, tôi chỉ là người giúp việc Thường trực Hội một đầu việc, và đầu việc ấy, cũng còn có cán bộ chuyên, rất có kinh nghiệm công tác. Biết tổ chức thì sẽ có thời gian. Trên đời này, có ai nhăm nhăm làm mỗi một việc đâu. Ở Hội Nhà văn, tôi là ủy viên Ban chấp hành, phụ trách về tổ chức, về công tác hội viên, theo sự phân công của Chủ tịch Hội. Chủ tịch Hội phân công việc gì thì tôi làm tròn việc đấy. Không phải "ăn đấu" nhưng làm thì là "làm khoán", cũng hợp với khả năng và điều kiện của tôi…Vì công tác ở bên Đài, có các cộng sự tài giỏi, nên việc tuyên truyền cho các hoạt động cũng như thành tựu sáng tác của Hội, chúng tôi làm rất thuận lợi và có hiệu quả, thậm chí là hiệu quả cao. Nhưng việc chính vẫn là công tác tổ chức, công tác Hội viên…

PV: Trong đó có việc kết nạp hội viên?

NT TĐK: Dĩ nhiên rồi. Và đó là một việc lớn, ở nhiều khâu, qua nhiều người, dưới sự chỉ đạo rất chặt chẽ của Lãnh đạo Hội.  

PV: Theo anh thì anh có hài lòng với chất lượng kết nạp hội viên không? Anh có hài lòng với hình ảnh của Hội Nhà văn Việt Nam hiện nay đã và đang hình thành trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong tâm thế xã hội không? Và nếu không hài lòng thì là cái gì, vì sao và có thể giải quyết được không?

NT TĐK: Hài lòng thì chưa đâu, và chắc cũng không bao giờ, vì cái mình làm được, bao giờ cũng thấp hơn cái mình mong muốn. Nhưng chúng tôi cũng đã làm hết sức lực của mình. Ở Hội Nhà văn, có hai mảng rất vất vả và rất nhạy cảm, dễ gây tranh cãi, đó là Trao giải thưởng và Kết nạp hội viên. Số người xin vào Hội rất đông, hơn 600 người, mà mỗi năm chỉ kết nạp được vài ba chục người…

PV: Mà vẫn còn 600 lá đơn nữa...

NT TĐK: Có thể vào thời điểm này, con số còn đông hơn nữa.  Những năm gần đây, việc kết nạp chặt chẽ hơn. Có năm số người kết nạp bằng số người đã mất…

PV: Sêm sêm nhau...

NT TĐK: Sêm sêm thế. Chúng ta cầu mong không nhà văn nào phải ra đi. Nhìn chung, hàng năm, những người được vào Hội đều xứng đáng cả so với những nhà văn đã từng được kết nạp trước đây. Chỉ có điều bây giờ để bằng lòng được với công chúng thì không phải dễ.

PV: Đòi hỏi của công chúng bây giờ khác trước nhiều rồi...

NT TĐK: Đúng vậy. Rất phức tạp. Không ai có thể vừa lòng được tất cả mọi người.  Nhất là bây giờ, khi người đọc bao gồm cả những vị tiến sĩ, những vị giáo sư, thậm chí những người rất giỏi, có trình độ và sự trải nghiệm không thua người viết, thậm chí có khi còn uyên thâm và sâu sắc hơn người viết. Đó là cái may của một nền văn học. Nhưng làm cho bạn đọc bây giờ ngạc nhiên, hồi hộp theo dõi, vui vẻ đón chào mỗi khi có tác phẩm mới…là điều không đơn giản chút nào. Ấy là chưa kể những người viết với nhau, không dễ thuyết phục được nhau bằng tác phẩm…Chính điều ấy, sẽ thúc đẩy sự phát triển…dù rất khó…

PV: Nó khó là khó ở những cái gì, liệu anh có thể diễn giải cụ thể hơn?

NT TĐK: Khó là không thể vừa lòng được tất cả mọi người.

PV: Cái đó thì tất nhiên rồi...

NT TĐK: Thế thôi. Nhưng trong Hội Nhà văn, chúng tôi cũng làm hết sức lực của mình. Làm ở mức độ tối đa nhất mà mình có thể làm được.

PV: Anh có cảm giác rằng là không ít người trong xã hội chúng ta hiện nay dường như dồn cho khái niệm nhà văn và khái niệm Hội Nhà văn Việt Nam quá nhiều nội dung, mà thậm chí nó không phải như thế. Tức là theo quan điểm của tôi chẳng hạn, Hội Nhà văn cần phải ngồi ở đúng chỗ của mình, nhà văn Việt Nam cũng phải ngồi ở đúng chỗ của mình, dù nó nhỏ hơn, nó khiêm tốn hơn nhưng đúng chỗ của mình. Và chúng ta hiện nay hơi bị ảo tưởng về Hội Nhà văn, và chính vì thế cứ đòi hỏi nhiều quá, trong khi thực tế không thể làm được những điều đòi hỏi như vậy. Anh có nghĩ như vậy không?

NT TĐK: Cũng có thể, cũng có thể như thế. Nhưng tôi nghĩ, nếu không như thế, tình hình có khi lại xấu hơn, biết đâu, khi ta không biết, hoặc không muốn vươn tới cái có thể. Nhưng Hội Nhà văn vẫn còn là một ngôi đền thiêng, thiên chức của nhà văn vẫn rất cao cả. Nếu không còn thiêng nữa, thì những người sáng tạo chẳng nạp đơn xin vào Hội làm gì, và những vấn đề thuộc về văn chương, những câu chuyện xung quanh văn chương chẳng bao giờ được xã hội quan tâm nhiều đến mức như vậy.

PV: Không biết thế này có đúng không, nhưng tôi nghĩ, ở phương Đông và phương Tây vẫn khác nhau khái niệm về nhà văn. Khái niệm nhà văn ở phương Tây bây giờ thực ra nó gần với khái niệm doanh nghiệp, như ông Mario Puzo, ông ấy mất cách đây 10 năm, ông ấy nói, ông viết văn chỉ để kiếm tiền và ông ấy bảo, cái gì giá trị thì phải sinh ra tiền. Hay như bà J. K. Rowling viết Harry Potter cũng bảo vệ rất dữ những nguồn lợi nhuận của mình và bà rất là giàu, có rất nhiều tiền. Nhưng ở phương Đông mình, nhất là ở Việt Nam mình, văn chương vẫn có cái gì đấy dù không có tiền nhiều nhưng nó vẫn là khái niệm cao hơn tiền, chính vì thế chúng ta đòi hỏi ở nhà văn quá nhiều thiên chức mà thực ra rất khó thực hiện, bởi nhà văn cũng là con người thôi...

NT TĐK: Bởi vì ở Phương Đông cũng như ở Việt Nam, văn chương đích thực, phải tải Đạo, như cụ Đồ Chiểu nói: Chở bao nhiêu Đạo, thuyền không khẳm. Vì thế, trong con mắt của xã hội, nhà văn là cao quí, là đại diện cho giá trị đạo đức và văn hoá xã hội. Vì vậy, tác phẩm cao hơn tiền, có khi cao hơn cả chính nhà văn.Tất nhiên một tác phẩm hay sẽ có nhiều người tìm đọc, có nhiều người mua sách thì nhà văn mới có tiền, hoặc nhiều tiền. Tác phẩm càng ăn khách thì nhà văn càng có nhiều tiền. Tôi không tin một cuốn sách không có ai đoc lại có thể là sách hay. Điều ấy, ông Mario Puzo nói rất đúng. Tuy nhiên cũng không nên tuyệt đối hóa nhận định của ông, vì trong thực tế, cũng có những cuốn sách rất hay lại không được mọi người tìm đọc, thậm chí còn bị các nhà phê bình thẩm định hắt hủi. Và đôi khi tác phẩm càng nghiêm túc lại càng khó bán, càng tìm tòi lại càng khó bán. Nhưng nếu đã là tác phẩm hay thì sớm hay muộn cũng sẽ có công chúng…Các cụ dạy, cái kim bọc giẻ lâu ngày cũng ra, nữa là tác phẩm văn chương hay, nghĩa là cái kim chứ không phải cái tăm chẳng hạn…

PV: Tức là mình vẫn công nhận quan điểm sách hay là phải bán được, nhưng không nên tuyệt đối hóa khái niệm ấy quá.

NT TĐK: Đúng vậy. Không tuyệt đối hóa, nhưng cũng không nên vì thế để ỷ lại rằng là…

PV: ... Không bán được thì mới là đích thực!?

NT TĐK: Đúng vậy…những tác giả, tác phẩm ….kén độc giả…

PV: Vâng, đúng thế. Cũng không tin rằng tác phẩm rất nhiều người đọc hiển nhiên là có giá trị?

NT TĐK: Đúng vậy. Vì thế chúng ta mới phải cần đến các nhà phê bình, cần đến giới chuyên môn và đến…Hội Nhà văn, là tổ chức cao nhất của giới cầm cân nảy mực trong văn chương. Nhưng việc này, cái việc rất thiết cốt này, chúng ta chưa làm được bao nhiêu….

PV: Thực ra có một sự biện chứng thế này. Tôi nghĩ làm văn học hay làm nghề gì cũng thế, một khi anh đã là thầy tu thì anh không thể có vợ đẹp, con khôn được, tức là không thể đề huề gia đình được. Cái giá trị của sự tu hành là ở cái sự tu dưỡng và kiềm chế những bản năng của mình, cũng như việc hành hương ngày xưa các cụ chùa Hương có giá trị ở chỗ vất vả ta đi bộ bằng chính đôi chân của bản thân ta, chứ bây giờ lại có tư duy tiếp cận với Phật nhưng lại đi bằng cáp treo rất là nhanh, vừa muốn viết tác phẩm rất ăn khách, mà là tác phẩm đỉnh cao hẳn, thì điều đó hiện nay trong tâm thức của xã hội ta, không chỉ riêng nhà văn, hình như có cái gì đó không ổn, đó là thói làm quan tắt, thói không muốn tập thể thao nhọc mình mà vẫn muốn cơ bắp, vẫn muốn lập kỷ lục... Liệu anh có nghĩ điều đó nó có ăn lan vào cả trong giới nhà văn hay không?

NT TĐK: Tất nhiên anh nói cái đó rất là đúng, tuy nhiên cũng không nên tuyệt đối hóa, bởi vì nhà văn không phải thầy tu. Dù bạn đọc rất cảm tính, nhưng tôi vẫn rất tin bạn đọc. Một tác phẩm mà có giá trị chắc chắn là thiên hạ không nhầm. Cho nên có rất nhiều lần trao giải thưởng, có ai đó băn khoăn, liệu có những tác phẩm rất hay mà bỏ sót không? Tôi nghĩ không có đâu. Vì nếu có, bạn đọc đã ồn lên rồi. Giới báo chí đã phát hiện trước đó rồi, thậm chí, có khi chưa hay, báo chí đã làm ồn lên rồi, Còn hay thì khỏi phải nói…

PV: Đúng rồi, đúng.

NT TĐK: Bởi trước hội đồng giám khảo, các nhà báo đã rất tinh nhạy trong việc này, tất nhiên trong đó cũng có những nhà báo thực ra chỉ làm nghề quảng bá mà thôi, những bài giới thiệu lẫn với quảng cáo, chứ chưa chắc đã phải tác phẩm có giá trị đích thực, nhưng mà đã là một tác phẩm thực sự có đóng góp, có tìm tòi đặc sắc trong công chúng thì không bao giờ bị bỏ quên cả. Còn có những cái người ta tung lên rầm rĩ nhưng chưa chắc đã phải là cái hay, nhưng còn cái hay mà hoàn toàn bị bỏ lọt thì không có. Tất nhiên cũng có không ít cuốn sách được một thời đề cao bằng các giải thưởng, và ồn ào dư luận, nhưng không trụ được với thời gian. Hình như đấy chỉ là tác phẩm của một giai đoạn, điều này đòi hỏi người cầm cân nảy mực phải có tầm nhìn rộng, không phải 5 năm, 10 năm, mà thậm chí 50 năm …

PV: Và lâu hơn nữa.

NT TĐK: Đúng vậy...

PV: Đang có rất nhiều dư luận xung quanh hoạt động của Ban chấp hành Hội Nhà văn, về quan hệ giữa 6 anh chị thành viên. Anh là người "ở Seng Phan", nói như câu thơ Phạm Tiến Duật, anh nghe "tiếng bom thế nào", nó nhỏ hay là to?

NT TĐK: Tôi nghĩ bình thường.

PV: Quan hệ giữa các anh với nhau như thế nào?

NT TĐK: Tốt. Không có vấn đề gì lớn. Đấy là nhìn ở tầm vĩ mô. Còn tính cách thì khác nhau. Những quan niệm văn chương nhiều khi rất khác nhau. Chính vì sự khác nhau này mà có sự vênh nhau, cũng là điều dễ hiểu. Nếu 6 người là một thì chỉ cần một người thôi, không cần phải có 6 người nữa…

PV: Không có vấn đề gì?

NT TĐK: Thực sự đấy. Đấy là theo quan niệm của tôi.

PV: Anh đánh giá cách nhà thơ Hữu Thỉnh điều hành Ban chấp hành thế nào?

NT TĐK: Tôi nghĩ, 6 nhà văn trong Ban chấp hành là những người được Đại hội tin cậy, lựa chọn, mà chọn rất chật vật vì hơn 300 người ứng cử, hoặc đề cử mà chỉ có 6 người lọt vào thôi, nhễ nhại lắm, phải nói như thế. Tôi là người trong cuộc nên tôi biết, anh chị em trong BCH đã làm đến hết sức mình mà họ có thể làm được. Làm ủy viên BCH chẳng sung sướng gì. Làm chủ tịch Hội như ông Hữu Thỉnh cũng thế. Ông Thỉnh là người rất chu đáo và tận tụy. Rất khó tìm được người thứ 2 như thế trong lĩnh vực này. Cho nên tôi thấy nhiều người đánh giá về Hữu Thỉnh, nhận xét về anh ấy nhiều khi rất oan.

PV: Theo anh là như thế?

NT TĐK: Ví dụ như nói rằng ông ấy đi thăm hỏi người ốm hay đi viếng đám tang là mang theo cái thùng phiếu di động, tranh thủ này khác để kiếm phiếu… Tôi thấy cái đó là cái rất oan và nói như thế là ác với một người như ông Hữu Thỉnh. Tôi không bênh ông Thỉnh đâu. Một ông hội viên gãy chân, ông Thỉnh đến thăm lại viết trong hồi ký giễu cợt ông Thỉnh đến thăm, là rất bất nhẫn. Hay có người bảo ông Thỉnh tranh thủ lấy lòng, khi dự các đám tang, thì xin thưa, ví dụ như ông nhà văn Phù Thăng mất, mà Phù Thăng lại không phải là hội viên Hội Nhà văn, ông Hữu Thỉnh mặc dù rất bận, vẫn bỏ tất cả để lặn lội về Tứ Kỳ, đưa Phù Thăng ra đến tận nghĩa địa, tận nơi an nghỉ cuối cùng. Vậy chả lẽ ông Hữu Thỉnh ông kiếm lá phiếu của …Phù Thăng

PV: Nhưng sẽ có lá phiếu của những người yêu ông Phù Thăng (cười)...

NT TĐK: Không, không phải. Trong đám tang ông Phù Thăng, tôi biết toàn là nông dân thôi. Họ không biết gì đến văn chương thơ phú, và họ cũng chỉ biết ông Phù Thăng là một thợ cày…

PV: Anh cứ phản biện đi!

NT TĐK: Nói như thế sẽ không ai muốn làm điều tốt nữa. Rất có hại. Trước hết là hại về đạo lí, về nhân nghĩa… Còn việc có tác phẩm hay, hay không, tác phẩm là do từng nhà văn ngồi trước trang giấy, cái đó do chính nhà văn quyết định chứ không phải lãnh đạo Hội Nhà văn quyết định. Ông Thỉnh là người làm dâu trăm họ theo nghĩa đen. Trong nghề nghiệp, ông Thỉnh là người có tài, không phải chỉ trong sáng tác đâu, mà kể cả phê bình. Bằng cớ là một loạt những vấn đề thuộc về lý luận văn học, có những hội thảo mà ông ấy đến dự, thậm chí không dự được từ đầu, nhưng khi kết luận, ông ấy vẫn nói đúng, nói rất hay, rất xác đáng và ông ấy nói trực tiếp, nói luôn.

PV: Nói vo luôn...

NT TĐK: Nói vo, mà nói rất đúng và rất trúng, đầy sức thuyết phục. Riêng những bài tổng kết như thế, nếu tập hợp lại cũng đã đủ thành những cuốn lý luận rất hay mà nhiều nhà lý luận thuần túy không có được. Nhưng lời nói gió bay. Cũng có đôi bài lý luận được "viết" trực tiếp như thế, sau được ghi lại in trên báo thì lại nhạt, mất hết hồn vía, không còn là Hữu Thỉnh nữa. Thế nên cuối cùng nhìn lại, Hữu Thỉnh chỉ còn mỗi thơ thôi, mà thơ cũng phong phanh, trong khi thực lực của ông ấy nhiều hơn thế, đồ sộ hơn thế. Tiếc chứ, nếu nhìn ở góc độ của một người sáng tạo. Vì thế, tôi rất thương Hữu Thỉnh và rất tiếc cho Hữu Thỉnh.

PV: Thế mới biết sức hấp dẫn của việc lãnh đạo, hấp dẫn hơn cả sáng tác và viết ra những điều mình tâm huyết...

NT TĐK: Nhưng rồi vẫn phải có người lãnh đạo chứ, có người phải làm Chủ tịch Hội chứ. Thời ông Thỉnh, Hội có Bảo tàng Hội Nhà văn, có tạp chí Văn học nước ngoài, có báo Văn nghệ, tạp chí Thơ gửi biếu đến tận từng Hội viên, chưa kể báo Văn Nghệ Trẻ, v v... Đó là cố gắng của các khoá chấp hành, nhưng công lao của cá nhân ông Thỉnh rất lớn. Ông Thỉnh cứ chạy như cờ lông công, trong khi các nhà văn khác, chỉ chăm chút cho các trang viết của mình.  Ngay Nguyễn Đình Thi thời cụ làm Tổng thư ký nhưng tôi thấy ông cụ không bổ sấp, bổ ngửa như ông Hữu Thỉnh đâu, vẫn cứ ngồi mà viết thôi, điều hành theo kiểu gọi là vĩ mô thôi, bởi vì Hội Nhà văn nó rất buồn cười ở chỗ này, tức là nếu như làm hết việc thì tối tăm mặt mũi không bao giờ hết được việc, mà nếu không làm gì thì nó vẫn thế...

PV: Vẫn không sao cả (cười).

NT TĐK: Nó chả ảnh hưởng gì và Hội nó vẫn cứ thế, có khi nó còn êm đềm hơn cơ. Bởi nhà văn suy cho cùng, giá trị và uy tín là ở các sáng tác.

PV: Hội chỉ góp phần làm cho đời sống nhà văn dễ chịu hơn, điều kiện dễ chịu hơn một tí.

NT TĐK:  Suy cho cùng Hội Nhà văn chỉ có mấy việc, một là kết nạp hội viên, hai là xét và trao giải thưởng.

PV: Cái thứ ba là quan tâm đời sống vật chất có cải thiện được gì cho anh em?

NT TĐK: Cái thứ ba quan tâm đời sống vật chất cho anh em. Chỉ có mấy việc đấy thôi, chăm lo các nhà văn, nếu có việc gì đấy phải có tiếng nói kịp thời. Phải nói Ban chấp hành cũng đã làm hết sức mình... Còn tất nhiên công việc của Hội nó bề bộn như thế, nó nhiều vấn đề như thế mà riêng hội viên mình lại rất phức tạp chứ không hề đơn giản.

PV: Những người bình thường ít chữ thì đã phức tạp rồi, mà có chữ lại có tài một chút lại càng phức tạp hơn.

NT TĐK: Vô cùng phức tạp và nó dễ thành chuyện, cái nọ xọ cái kia, bé xé ra to. Nghe những cuộc tranh luận bao giờ cũng thấy có lý, và với người có tài lại sắc sảo thì nghe kinh khủng lắm, nhưng về bình tĩnh nghĩ lại, mình lại thấy nó không phải như thế. Còn ông Thỉnh có nhược điểm không, có nhiều, đặc biệt là ôm đồm công việc. Tôi rất không vui khi ông hẹn giao ban mấy giờ nhưng rồi ông lại đi làm việc khác, không có mặt. Nên nhiều việc không kết thúc được. Mà với tôi chẳng hạn, bao giờ tôi cũng đến trước 5 phút, và hết giờ hẹn là tôi phải biến luôn, vì tôi còn có những việc đã lên lịch ở bên Đài…

PV: Tại sao có một số người, những người từng làm việc gần gũi với anh Thỉnh, khi đến với anh Thỉnh đầy kỳ vọng, còn khi rời anh Thỉnh lại cảm thấy đầy thất vọng, theo anh vì sao?

NT TĐK: Tôi thấy điều ấy là dễ hiểu thôi. Bởi vì ông Thỉnh vốn là người tốt bụng và cả nể, muốn tất cả mọi điều đều tốt lành, muốn vừa lòng tất cả mọi người…

PV: Khắp bàn dân thiên hạ.

NT TĐK: Nhưng mà như tôi đã nói, không thể vừa lòng tất cả mọi người được. Khi mà không được, người ta dễ buồn, dễ thất vọng.

PV: Tức là đừng nên để cho người khác quá kỳ vọng vào mình, anh Thỉnh thì lại hay để người khác kỳ vọng quá.

NT TĐK: Có lẽ thế. Ví dụ như có những việc ông Thỉnh định như thế nhưng mà ra Ban chấp hành bàn đi bàn lại, kết quả có khi không như thế. điều ấy là điều dĩ nhiên thôi...

PV: Theo anh có cách nào điều hành để Hội Nhà văn thực sự có ích hơn cho cộng đồng các nhà văn và cho xã hội hay không?

NT TĐK: Cái này anh nên hỏi ông Hữu Thỉnh, ông Lê Văn Thảo, hoặc ông Nguyễn Trí Huân. Còn tôi, tôi thấy Ban Chấp hành cần có nhiều người hơn để đảm đang các công việc, không nên ít quá như hiện nay.

PV: Có người nói, có thể khoá tới anh sẽ sang công tác bên Hội Nhà văn?

NT TĐK: Không. Tôi sẽ làm việc chính thức ở bên Đài cho đến khi nghỉ hưu. Điều ấy đối với tôi là dứt khoát. Chính ở Đài, tôi có ích hơn cho Hội Nhà văn. BCH cũng như cơ quan Hội Nhà văn nên cần đa dạng hơn. Nhiều phong cách để phản ánh tất cả các mặt.

PV: Đúng các thành phần đội ngũ các nhà văn.

NT TĐK: Đừng có e ngại gì vì tất cả các nhà văn của mình đều rất tốt. Tôi có thể nói như vậy, họ có thể có những quan niệm khác nhau về sáng tác nhưng mà bản chất đều là những người rất yêu nước và ham sáng tạo.

PV: Họ có thể nóng nảy, đôi lúc có thể hơi bị thiên kiến một tí.

NT TĐK: Không sao. Thế mới là nhà văn, nghĩa là rất khác nhau. Nếu có mâu thuẫn gì trong văn chương cũng là điều cần cảm thông, vì nó là cái tất yếu của sự phát triển.

PV: Có nghĩa là mâu thuẫn để sáng tạo chứ không phải mâu thuẫn để hủy hoại.

NT TĐK: Đúng.  Sáng tạo chứ không phải hủy hoại. Tất cả là ở chỗ đó. Và như thế, tôi nghĩ, mọi điều sẽ tốt đẹp...

 

Nguồn: An Ninh Thế Giới giữa tháng



Trần Đăng Khoa và thơ văn bỏ mả

Tôi sinh ra ở Sài Gòn, nơi vẫn được mệnh danh là Hòn Ngọc Viễn Ðông. Chỉ ngặt cái là ngay chỗ tôi chôn nhau cắt rốn (Xóm Chiếu, Khánh Hội) thì lại không được danh giá hay ngọc ngà gì cho lắm. Đây là nơi cư trú của những tay anh chị, những cô gái ăn sương, những đứa trẻ bụi đời, và đám phu phen bốc vác ở kho Năm.

Khánh Hội, rõ ràng, không phải là mảnh đất lý tưởng dành cho văn chương hay học thuật. Chưa có nhà văn, nhà thơ hay một vị trí thức khoa bảng nào chào đời tại chốn này. Lều văn, chòi thơ, hoặc trí thức (xuông) thôi cũng khỏi có luôn.

Sinh hoạt văn hoá của chúng tôi, bởi thế, chỉ xoay quanh… bàn nhậu. Nơi lúc nào cũng rộn rã tiếng cười, mùi mẫn tiếng ca vọng cổ, và rôm rả tiếng chửi thể. Đ… mẹ, thằng nào nói láo là xe cán chết liền!

Nước Việt, tất nhiên, có nhiều địa phương an lành và nền nã hơn như vậy. Và đây mới chính là chỗ xuất thân của những nghệ sĩ, danh nhân, tài tử… Theo như tường thuật của nhà thơ Lê Thiếu Nhơn – đọc được trên evan.vietexpress.net, vào ngày 7 tháng 1 năm 2008 – quê hương của thần đồng Trần Đăng Khoa (xem ra) rất có vẻ là một nơi như thế:

"May mắn có vài dịp đi qua xã Quốc Tuấn, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương, tôi luôn tìm cớ dừng lại rất lâu để ngắm nhìn những bờ ruộng nhấp nhô, những mái nhà thấp thoáng, những hàng tre lập lòa trong bóng chiều nhập nhoạng của một miền quê nghèo, mà tự hỏi: Tại sao nơi này có thể sinh ra được một thần đồng thơ nhỉ?"

…………..

"Biết đâu năm 1958, Thượng Đế nhàn rỗi đã tản bộ qua đây và rải chút ít bụi thơ xuống bờ bãi sông Kinh Thầy đúng cái ngày bà mẹ hữu duyên trở dạ sinh ra Trần Đăng Khoa."

Tôi vinh hạnh được sinh cùng thời với vị thi sĩ thần đồng nhưng chưa bao giờ may mắn được sống cùng nơi với ông. Khi còn chiến tranh chia cách, chúng tôi kẻ Bắc/người Nam. Lúc đất nước thống nhất, Nam-Bắc hòa lời ca, tôi ca (nhắm) không nổi nên bỏ chạy…  khiến cho "đôi đứa" phải chia xa.

Dù cách xa quê nhà vạn dặm, thỉnh thoảng tôi vẫn nghe thiên hạ nhắc đến  nhà thơ Trần Đăng Khoa. Tuy thế, thơ ca của ông thì mãi đến hôm gần đây tôi mới có cơ duyên được xem qua – chút đỉnh.

Hôm đó, tôi tình cờ gặp Phạm Hoàng ở California – khi nhà báo này đến đây để tham dự cuộc Họp mặt Dân chủ - tổ chức vào ngày 6 tháng 6 năm 2009. Sẵn dịp ông ấy tặng cho mấy số tạp chí Cánh Én,  phát hành từ… thế kỷ trước – như là kỷ niệm của một "thời thương khó," khi báo chí còn phải in ấn (rất) lôi thôi chứ chưa được đưa lên net.

Cánh Én số phát hành vào tháng 12 năm 1999, qua "Câu chuyện bên bàn trà," có lời lời tâm sự rất ngộ của nhà thơ Trần Đăng Khoa:

"Vừa rồi tôi có đi Tây Nguyên dự lễ bỏ mả của gia đình ông Y Ngông Niết Đam. Nguời Eđê có một tục lệ rất đặc biệt. Khi nhà có nguời chết, gia đình con cháu hàng ngày vẫn nuôi nấng, vẫn mang cơm nuớc ra mộ, khi có điều kiện họ làm lễ bỏ mả. Đó là bữa tiệc linh đình chia tay vĩnh viễn với nguời chết. Sau đó họ không quan tâm đến ngôi mộ ấy nữa, để linh hồn nguời chết được siêu thoát, không còn vướng víu cõi trần. Tôi cũng đã làm xong cái lễ bỏ mả cho thơ ca thời niên thiếu của tôi."

Bỗng dưng nghe một vị thần đồng tuyên bố "làm lễ bỏ mả cho thơ ca thời niên thiếu" của ông (khiến) tôi đâm hoảng, rồi bùi ngùi… hoá tiếc. Thế là tôi vội vàng tìm đọc những thi phẩm mà Trần Đăng Khoa sáng tác vào lúc ấu thời:

A, Bác Hồ!

Bác Hồ ta đó!

Bác mặc tấm áo ka ki

Bàng bạc sương rừng Pắc Bó

Trán Bác có ngôi sao

Thảo nào Bác đi đêm không lạc Bác ơi, Bác!

(Em gặp Bác Hồ – 1969)

Chú ngồi dặn cháu trong phòng

Ôi lòng Chú cũng như lòng mẹ cha

Tiếng thơ Chú bỗng ngân nga

Hoà cùng tiếng võng quê nhà mẹ đưa

Đất trời sang đẹp hơn xưa

(Thơ kính tặng Chú Tố Hữu – 1969)

Trần Đăng Khoa quả là một cậu bé có thời, và là một người đàn ông thức thời. Ông ấy "làm lễ bỏ mả cho thơ ca thời niên thiếu" là hợp thời, và phải (giá).

Nhân khi tìm đọc Trần Đăng Khoa, tôi còn được biết thêm rằng sự nghiệp văn học của ông ta không chỉ giới hạn trong lãnh vực thi ca. Qua một cuộc phỏng vấn, do Lê Thị Thái Hoà thực hiện, đọc được ở Thanh Niên Online vào ngày 30 tháng 4 năm 2008, ông cho biết:

" Tôi nói thật, chưa bao giờ tôi viết có xúc cảm hết. Thời trẻ con cũng thế và sau này cũng vậy. Thấy cần viết là tôi viết. Họ đặt ký tôi viết về người này người kia thì tôi viết. Thế là có tập Chân dung và Đối thoại đấy. »

Thiệt, nghe mà thấy ham hết sức. Sao thằng chả viết lách khoẻ re và dễ (ợt) vậy cà?

Sau khi thưởng lãm mấy bài thơ "viết không cần cảm xúc" – về các Bác và các Chú đầy quyền lực, trong thế giới tuổi thơ của Trần Đăng Khoa – tưởng cũng nên đọc (qua) loại ký mà ông được "đặt… viết về người này người kia" chút xíu.

Báo Văn Nghệ ( số 44, số ra ngày 3 tháng 11 năm 2007) có bài viết của Trần Đăng Khoa về Nguyên Ngọc, với đoạn kết (nguyên văn) như sau:

"Rồi má chỉ ra ngoài cửa nhà, nơi có bao nhiêu là tài sản của má. Sau vách đất, ngay bên cạnh mảnh sân to chừng hơn cái nong phơi thóc là một vạt ngô đã trổ cờ, mấy luống mía sắp bóc lá và cả một ruộng khoai lang. Gia tài ấy của má cũng đã đủ nuôi Nguyên Ngọc rồi…"

"Má Vinh rót nước râu ngô mời tôi với Nguyên Ngọc. Trên chiếc bàn nước bằng gỗ tạp, sau tấm kính vỡ được ghép lại là la liệt giấy khen, bằng khen đủ các kích cỡ thời kháng chiến. Cái thì đánh máy, cái thì viết tay, nét chữ đã ố mờ, chỉ có chữ ký của người chỉ huy chứ không có dấu. Những giấy tờ dã chiến như thế, liệu bây giờ người ta có tin không? Nguyên Ngọc cũng đã viết chứng thực cho gia đình má có công nuôi giấu cán bộ Cách mạng. Mọi văn bản cũng đầy đủ rồi, nhưng cơ quan chính sách vẫn chỉ im lặng. Má Vinh cười móm mém:"

- Thôi, chả cần nữa đâu, Thành à. Mình sống được đến bây giờ là may mắn lắm. Còn mong gì thêm nữa. Mà má cũng già rồi. Chẳng biết chết lúc nào. Má chỉ còn lo, là lo cho con thôi…"

"Không phải chỉ có má Vinh, bao nhiêu người dân ở khu căn cứ cách mạng này đều thương yêu và lo lắng cho Nguyên Ngọc. Bởi thế, chắc họ sẽ rất vui khi biết Nhà nước trao tặng Nguyên Ngọc Huân chương Độc lập hạng nhì. Biết đâu, điều ấy sẽ làm cho họ thêm tin yêu cách mạng, như những ngày gian khổ xa xưa…"

Cứ theo như lời của Trần Đăng Khoa thì cuộc sống ở nông thôn (xem chừng) cũng khoẻ, nông dân thì (có vẻ) dễ vui,  và (xem ra)  cũng hơi … dễ dụ. Dù nhà cửa đã trưng bầy tá lả "bằng khen đủ các kích cỡ," và dù tất cả đều giá trị không hơn một tờ giấy lộn, họ vẫn "sẽ rất vui khi biết Nhà nước trao tặng Nguyên Ngọc Huân chương Độc lập hạng Nhì."

Nói thế (chắc) chưa đã miệng nên Trần Đăng Khoa còn thòng thêm câu nữa: "Biết đâu, điều ấy sẽ làm cho họ thêm tin yêu cách mạng, như những ngày gian khổ xa xưa…" Thiệt là quá đã! Đọc Trần Đăng Khoa sao thấy thanh thản, an vui, và an tâm hết sức.

Thực trạng ở nông thôn, và đời sống của nông dân, theo như tường thuật của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều – đọc được trên Vietimes, vào ngày 23 tháng 3 năm 2008 – có phần (hơi) khác:

"Chúng ta đang nói về những cuộc tha hương kiếm ăn của hàng triệu con em những người nông dân. Chúng ta chứng kiến hết chuyện bi thương này đến chuyện bi thương khác của các cô gái lấy chồng ngoại quốc. Chúng ta chứng kiến những cô gái trẻ là con em những người nông dân tìm về thành phố để làm tất cả những gì họ có thể làm. Liệu chúng ta có còn có khả năng cúi mặt khi biết rằng ở nhiều khu du lịch hay vui chơi giải trí có rất nhiều thôn nữ 17 tuổi đã bán dâm từ 10 đến 20 lần một ngày?"

Trong một cuộc phỏng vấn do Nguyễn Thị Ngọc Hải thực hiện (trên báo Người Đô Thị, số ra tháng 10 năm 2008) nhà báo Võ Đắc Danh cũng đề cập đến tình cảnh phũ phàng tương tự: "Nông thôn nghèo hơn. Xơ xác. Chị thử đi một lần. Ra khỏi đường nhựa là nhà không ra nhà, người không ra người, bần cùng tăm tối."

Còn chính nhà văn Nguyên Ngọc – người đưa Trần Đăng Khoa đến thăm má Vinh ở ấp Phái Nhất, thôn Quang Hiện, xã Điện Hoà -  chắc phải ứa nước mắt khi viết về "Đất và nông dân":

"… đến hôm nay nhiều người đã phải nói lên một sự thật đã tới hồi không còn có thể quay mặt làm ngơ nữa: nông dân chán ruộng, nông dân chán nông thôn. Nghĩa là về cả hai mặt quan trọng, sống còn nhất trong đời sống con người đã khủng hoảng thật quá sâu: về kinh tế, người lao động trên ruộng đồng đã chán cả mảnh đất ngàn đời máu thịt của mình; về văn hóa thì cái nơi vốn là gốc rễ của văn hóa dân tộc ấy đã chán chường đến mức người ta không còn muốn sống ở đấy nữa, mặc dầu bỏ ra đi thì sẽ là lao vào một cuộc phiêu lưu cũng thật mịt mùng!" (Tia Sáng, số ra ngày 2 tháng 7 năm 2008).

Sự tương phản rõ rệt giữa những cái nhìn (thượng dẫn) khiến tôi buộc phải nghĩ rằng Trần Đăng Khoa không phải là người trung thực. Ông ấy chỉ… viết đại, theo như đơn đặt, thế thôi.

Điều may mắn là chỉ hơn một năm sau, qua một cuộc phỏng vấn khác – đọc được vào hôm 13 tháng 7 năm 2009, do Hồng Thanh Quang thực hiện – Trần Đăng Khoa đã nói khác. Ông không đề cập đến chuyện "viết không cần cảm xúc" hay "viết theo đơn đặt" nữa. Thay vào đó, ông nêu lên"thiên chức của nhà văn" bằng những lời lẽ hết sức trang trọng và cảm động:

"Bởi vì ở Phương Đông cũng như ở Việt Nam, văn chương đích thực, phải tải Đạo, như cụ Đồ Chiểu nói: Chở bao nhiêu Đạo, thuyền không khẳm. Vì thế, trong con mắt của xã hội, nhà văn là cao quí, là đại diện cho giá trị đạo đức và văn hoá xã hội."

Tôi chỉ là một thường dân, và là  kẻ xuất thân từ một nơi ô tạp nên không dám lạm bàn đến "thiên chức của một nhà văn." Tôi cũng không dám kỳ vọng  Trần Đăng Khoa, hoặc bất cứ ai, phải trở thành một người "đại diện cho giá trị đạo đức và văn hoá xã hội."

Sống ở thời buổi nhiễu nhương đâu phải dễ. Lôi thôi chúng bắt lên TV nhận tội thì bỏ mẹ. Chỉ mong sao, trong tương lai gần, sẽ có lúc nhận được một tin vui (nhỏ): nhà văn Trần Đăng Khoa cũng đã làm lễ bỏ mả cho những tác phẩm  (viết theo đơn đặt) của ông rồi. Được thế thật qúi hoá lằm thay.

Tưởng Năng Tiến