Showing posts with label Giao Duc. Show all posts
Showing posts with label Giao Duc. Show all posts

Friday, February 4, 2011

Năm mới học cách tính thứ theo dương lịch

(HNM) - Rất nhiều người muốn biết một ngày sắp tới hay một ngày đã qua là thứ mấy. Đơn giản nhất để xem một ngày nào đó (tính theo dương lịch) là thứ mấy, người ta xem trên lịch (lịch vạn niên, lịch treo tường...). Nhưng không phải lúc nào ta cũng có sẵn lịch ở bên cạnh. Những lúc như thế, ta có thể sử dụng cách sau để tính.

Giả sử ta cần tính một ngày trong năm N. Trước hết ta cần tính xem thứ tự C của ngày đó trong năm N. Ví dụ như ngày 3-2-2011 có thứ tự là C = 34, gồm 31 ngày của tháng 1 cộng với 3 ngày của tháng 2.

Sau đó ta tính các số sau:

+ Thương của N - 1 chia cho 4

+ Thương của N - 1 chia cho 100

+ Thương của N - 1 chia cho 400.

Lấy N - 1 cộng với thương thứ nhất, trừ đi thương thứ hai, cộng thêm thương thứ 3 rồi cộng thêm C. Lấy kết quả vừa tính chia 7. Số dư của phép chia này sẽ là cơ sở để ta tính hôm đó là thứ mấy. Số dư nhận giá trị từ 0 đến 6 thì tương ứng trong tuần sẽ là các ngày từ chủ nhật đến thứ bảy. Dư 0 (tức là chia hết) là chủ nhật; dư 1 là thứ hai; dư 2 là thứ ba; dư 3 là thứ tư; dư 4 là thứ năm; dư 5 là thứ sáu; dư 6 là thứ bảy.

Ví dụ như cần tính ngày 3-2-1011. Ta có N = 2011, C = 34. Từ đó thương của 2010 (là N - 1) tương ứng khi chia cho 4, 100, 400 là: 502, 20, 5.

Ta có kết quả 2010 + 502 - 20 + 5 + 34 = 2531.

Chia 2531 cho 7 được thương 361, dư 4. Do đó ngày 3-2-2011 là thứ năm.

Lưu ý. Để tính C, ta phải biết rõ số ngày trong từng tháng của năm N. Các tháng 1, 3, 5, 7, 8, 10, 12 luôn có 31 ngày. Các tháng 4, 6, 9, 11 luôn có 30 ngày. Riêng tháng 2 có 28 ngày (đối với năm thường) hoặc 29 ngày (đối với năm nhuận hoặc nhuần). Nếu N là năm nhuận thì N chia hết cho 4 mà không chia hết cho 100 hoặc khi N chia hết cho 100 thì N phải chia hết cho 400. Chẳng hạn, những năm 2000, 2004, 2008, 2012 là năm nhuận, còn các năm 2100, 2200, 2300 đều là những năm thường. Tại sao lại thế? Để tìm hiểu về năm nhuận, các bạn xem phần lý giải sau.

Thời gian trái đất quay chung quanh mặt trời một vòng tính theo năm thiên văn là 365,242199 ngày. Như vậy, cứ sau 4 năm thì thừa ra: 0,242199 x 4 = 0,968796 (ngày).

Năm 708 theo lịch Roma (năm 46 TCN), danh tướng Roma Julius Caesar đã yêu cầu nhà thiên văn Hy Lạp tên là Sosigene xứ Alexandrie sửa đổi lịch. Theo đó, 1 năm có 365 ngày và cứ 4 năm lại thêm 1 ngày (gọi là năm nhuận). Lịch này có tên gọi là lịch Julien. Lịch Julien vẫn còn dùng cho đến thế kỷ XXI ở một số nước.

Như vậy cứ sau 4 năm thì thiếu: 1 - 0,968796 = 0,031204 (ngày).

Trung bình sau khoảng thời gian là: (1: 0,031204) x 4, xấp xỉ 128,19 năm thì thiếu đúng 1 ngày.

Tính tương đối thì theo chu kì 4 năm có 1 năm nhuận, năm thứ 128 sẽ không nhuận. Để sửa đổi sai sót này, năm 1582, giáo hoàng Gregory XIII đã sửa lịch Julien.

Theo đó, các năm chia hết cho 4 là năm nhuận, nhưng trong 400 năm (gần bằng 3 lần 128,19 năm) thì có 3 năm có tận cùng bởi hai chữ số 0 mà không chia hết cho 400 thì không phải là năm nhuận (như đã nói ở trên). Lịch này có tên gọi là lịch Grigôri. Ngày nay lịch Grigôri được áp dụng cho hầu hết các nước, trong đó có Việt Nam.

Thai universities face a brave, new world

Writer: Tej Bunnag and Said Irandoust

 

For a long time the education system in Thailand has been facing a dilemma over policies. Reminiscent of the Orientalist versus Anglicist debate which took place in most countries, policy makers in Thailand have also been caught between education inspired by Western universities vis-a-vis the indigenous model.

The new century, however, may render many such debates irrelevant. Advances in technology, new pedagogical techniques and the creation of knowledge societies have catapulted education to a totally different trajectory.

A few trends in higher education are clearly discernible. No single university or institute is in a position to respond to the burgeoning demands of society. The collective demands on higher education are so high that governments are not in a position to meet the requirements. Two of the biggest markets in Asia - China and India - have realised that the market is simply too huge for the governments to serve, and they are actively inviting foreign partners. China was an early starter, and in 2003 it had already invited foreign universities to establish partnerships in China. In March last year, India introduced an act in parliament allowing foreign universities to establish a base in India.

Both China and India are examples of how foreign universities and local universities can collaborate with each other and bring the best in foreign education to meet its local needs.

This trend is visible in Southeast Asia as well. Singapore and Malaysia have already adopted this path. At the Asian Institute of Technology, Thailand already has its first international inter-governmental institute of higher learning. It is time that Thailand moves in and takes the lead in partnering with foreign universities. This has the twin benefit of not only preventing brain drain, but bringing world class education to one's doorstep.

Second, universities have to be innovative and adapt to emerging situations quickly. Institutes of higher learning have to realise that the market can be ruthless when it hires people. Top level companies only hire the best, and if the institutes or universities are not producing graduates who match the market requirements, chances of them getting hired are remote. The private sector on the other hand, has been complaining regarding the under-supply of globally competitive graduates and the lack of skills required by the market place.

The need for universities to launch innovative programmes and partner with industry is now almost mandatory for universities to remain relevant. Experience has shown that when universities fail to innovate, their students remain confined to bookish knowledge and remain unemployable. If students are unemployable when they leave university, then the spectre of the institution becoming irrelevant looms large.

One innovation that can prevent such occurrences of redundancy is the concept of a University of Professions. Such a university seeks to cater towards professions by integrating scientific knowledge and information from various professions. Knowledge often hinges on practical applications. If universities fail to validate the knowledge generated by various professions, then this cache of knowledge would be lost for future generations.

Knowledge is not the exclusive domain of institutes of higher learning. The corpus of knowledge in the private sector, industry and even indigenous knowledge is so huge that even documenting it would be a gigantic task for universities.

But the task of universities does not end in merely documenting and validating this corpus. As innovators, they need to delve deeper and build further, generating more knowledge.

To be able to achieve this goal, universities need to partner not just with the private sector, but also with communities who are the repository of indigenous knowledge. A two-way relationship is required and universities need to respond by giving them something in return. For the private sector, the relationship could be in the form of better trained graduates. In the case of communities, universities can help them in solving their problems and come up with innovative solutions. These solutions can be based on the collective wisdom of the community, coupled with the application of cutting-edge technology brought to them by universities. Such partnerships could collectively further the cause of creating a knowledge society.

Apart from partnering with global universities and local partners, a third significant way universities could innovate is to take the lead in forging financial partnerships. Finance is a key issue for universities all over the world, and with the decline in funding from traditional sources; they have to be innovative in tapping fresh resources. Funding from governments and international agencies to institutes of higher learning is no longer guaranteed. Lack of government finances has reached such a stage that 71 public universities in Pakistan have stated that unless the government releases funds, they will be forced to shut down.

An alternative model is associating all partners including the government, the private sector as well as the universities at one platform. The model need not be a straight three-way relationship but could involve more than one university, or more than one private partner.

The modalities of such a partnership will have to be tailored to the needs of the university. If the university wishes to establish a branch campus in a new country, then local partners and the local government could be considered as possible partners. Both foreign and local investors can be tapped for financing the operations.

The days when one single financial model could be applicable to all are over. One size fits all is no longer valid in universities. For partnering with the private sector, funding can be tapped from not just the private sector but also the beneficiaries. The public-private partnership model has been used extensively by governments, particularly in the field of infrastructure.

An example is the Partnership Victoria initiative by the state government of Victoria in Australia which was launched 10 years ago. Universities have been very active in this initiative.

The initiative came from the government which decided to adopt public-private partnerships for provision of public infrastructure and related ancillary services. So far there are 21 "Partnership Victoria" projects with a capital investment worth A$10.5 billion (300.5 billion baht). Since 2003, "Partnerships Victoria" projects have accounted for approximately 10% of annual public asset investment commitments. Their project on Biosciences Research Centre Project valued at $288 million has partners from government, universities as well as the private sector. The Department of Primary Industries, La Trobe University and three private sector partners have an agreement to create a new world-class facility for agricultural biosciences research and development.

Innovations require new thinking and a critical approach. For universities in Thailand to stop being imitators of the west, it is time to actively search for innovative solutions. This is the era of partnership, but even to partner with the west, universities have to find innovative ways.

Tej Bunnag, a former foreign minister, is the chairman of Board of Trustees of the Asian Institute of Technology.

Said Irandoust is AIT president.

http://www.bangkokpost.com/opinion/opinion/220396/thai-universities-face-a-brave-new-world

 

 

Sunday, January 30, 2011

Tìm thầy số 1 mà học


Trong mọi lãnh vực trên đời, người không biết và không giỏi thì nhiều, bậc thầy giỏi thì lại rất hiếm—vẽ, vũ, nhạc, vật lý, triết lý, toán, y học… Và nếu bạn là học trò khôn ngoan, thì học bất cứ môn gì, bạn cũng muốn tìm bậc thầy số một trong thiên hạ để học.

Nhưng nói về cách sống thì đa số chúng ta lại hành động ngược lại, một cách rất ngu dốt. Mấy đứa bạn thì đứa nào cũng dốt bằng mình hay dốt hơn mình, chẳng biết gì cả, vậy mà ta lại rất chịu khó nghe chúng nó ba hoa chích chòe về “đạo sống” và nhập tâm thực hành lời chúng nó, như là “sống thì phải biết dối trá lươn lẹo, không tham nhũng thì không sống được, cây ngay chết đứng, có tiền mua tiên cũng được…”

Các vị thầy lớn về đạo sống của thế giới, cho đến ngày nay, chỉ có 3 người vượt trội: Thích Ca, Giêsu, Mohammad. Muốn biết cách sống rất sâu rất mạnh thì học từ ba người này. Mỗi người đã có mặt từ hơn kém 2000 năm trước, và cho đến ngày nay thì số đệ tử của mỗi người lên đến hàng tỉ.

Các bạn, hãy quan sát kỹ về việc này. Nếu bạn rất rất giỏi, như Sigmund Freud, Jean Paul Sartre, sau khi bạn chết có lẽ một số ít người sẽ còn nhớ tên bạn khoảng 50 năm, đại đa số người chẳng hề biết bạn là ai. 100 năm sau khi bạn chết, nếu bạn rất rất giỏi, thì cũng chỉ vài ba người là còn nhớ tên bạn. Nếu một người đã mất 2 nghìn năm, mà số người biết đến tên người ấy lên đến hàng tỉ, người ấy nhất định là phải có diều gì đó rất hay cho thế giới học. Nếu các vị không có gì hay để học thì đương nhiên là tên tuổi các vị đã biến mất theo dòng thời gian cả nghìn năm nay rồi. Kinh tế thị trường mà! Sản phẩm hay thì được ưa chuộng mãi, sản phẩm tồi thỉ tự khắc chết theo thời gian.

Rất tiếc là đa số người thích tôn Thích Ca, Giêsu và Mohammad lên hàng thần thánh để vào nhà chùa nhà thờ nhang đèn lễ bái với các vị, xong rồi bước ra ngoài và vẫn hành động bừa bãi ngu dốt mà không chịu học các vị một tí nào. Các vị này là các vị thầy dạy chúng ta sống. Các vị không muốn và không cần được chúng ta tôn thờ như thần. Các vị chỉ muốn ta học và hành động theo lời các vị chỉ bảo. “Từ nay về sau, các đệ tử của Ta phải biết triển chuyển thực hành, thì đó là các thầy đã làm cho pháp thân thường trụ của Như Lai không bị hủy diệt!” (Thích Ca, Kinh Lời Dạy Cuối Cùng ). “Nếu ai yêu ta, người ấy sẽ làm theo lời ta.” (Jesus, John 14:23)

Nhưng người ta thích đặt các vị lên ngai thờ giáo chủ, và lễ bái màu mè, và không thành tâm học tập giáo huấn của các vị. Đôi khi còn bóp méo điều các vị dạy thành các giáo điều quái dị. Thế mới là tồi!

Cách sống của chúng ta là nền tảng của tất cả mọi việc khác của ta—công ăn việc làm, danh phận, tài sản, tình yêu, hôn nhân, gia đình, hạnh phúc, đau khổ… Không có việc gì trên đời quan trọng cho ta bằng cách sống của ta cả. Cho nên nếu các bạn sáng suốt thì hãy quan tâm vào cách sống, cách tư duy về cuộc sống, của bạn. Và tìm thầy tốt mà học.

Học từ thầy tốt, có nghĩa là đọc chính lời các vị nói, quan sát hành động của các vị trong đời, suy ngẫm các lời nói và hành động để hiểu sâu hơn, và thực hành để thực sự sống và hiểu rốt ráo các điều đó. Đừng nghe qua lời người khác, dù đó là ai ở nhà thờ hay nhà chùa; các diễn giải thường đi xa nghĩa nguyên thủy, nghe một chút để lấy thông tin nguyên thủy và tự tìm hiểu thì tốt, nhắm mắt nghe theo thì hỏng.

Đa số chúng ta rất là ngớ ngẩn. Tối ngày nghe theo cách sống của mấy lũ bạn cùng lắm là dốt ngang mình. Hãy học từ các vị thầy số 1 của lịch sử con người, vì cuộc đời của bạn đủ quan trọng để tìm thầy số 1 mà học.

Friday, January 21, 2011

Phúc- Lộc- Thọ, các cụ là ai?



DƯƠNG DUY NGỮ



Cụ bà và cụ ông bằng tuổi nhau. Người Việt ta có câu: "Cùng tuổi nằm duỗi mà ăn"


Theo truyền thuyết của người Hoa Hạ, ông Lộc là một quan tham chuyên ăn của đút lót. Ông Thọ lại là vị quan thực dụng, ưa xu nịnh vua để được ban thưởng, trong dinh của ông cung nữ nhiều chẳng kém ở cung vua. Chỉ có ông Phúc là quan thanh liêm, ngay thẳng, con cháu đề huề.

Hiện nay, từ thành thị đến nông thôn, ở đâu ta cũng gặp các cụ Phúc, Lộc, Thọ. Các cụ thường được đặt ở nơi trang trọng nhất trong phòng khách, trên nóc tủ chè, có nhà còn làm cả bàn thờ rõ đẹp để thờ ba cụ cầu mong được phúc, được lộc, được thọ. Người sang thì có cả ba cụ bằng gốm Tàu rõ to, rõ đẹp. Người tầm tầm thì bằng gỗ pơ-mu hoặc sứ Bát Tràng…

Xin thưa, theo truyền thuyết, cả ba cụ đều là người Hán và dĩ nhiên đều sinh ra ở Trung Nguyên. Và ba cụ đều làm quan to ở ba triều đại.

Hãy kể theo thứ tự, bắt đầu từ cụ Phúc. Cụ Phúc tên thật là Quách Tử Nghi, Thừa tướng đời Đường. Cụ xuất thân vốn là quý tộc, đồng ruộng bát ngát hàng trăm mẫu, nhưng suốt cuộc đời tham gia triều chính, cụ sống rất liêm khiết, thẳng ngay. Không vì vinh hoa, phú quý mà làm mất nhân cách con người.

Cụ bà và cụ ông bằng tuổi nhau. Người Việt ta có câu: "Cùng tuổi nằm duỗi mà ăn". Còn theo người Hoa Hạ ở Trung Nguyên thì vợ chồng cùng tuổi là rất tốt. Họ có thể điều hòa sinh khí âm, khí dương cho nhau. Vì vậy, có thể bớt đi những bệnh tật hiểm nguy. Lại cùng tuổi nên dễ hiểu nhau, dễ thông cảm cho nhau, nên hai cụ rất tâm đầu, ý hợp. Hai cụ 83 tuổi đã có cháu ngũ đại. Lẽ dĩ nhiên phải là nam tử rồi. Cụ Phúc thường bế đứa trẻ trên tay là như vậy. Theo phong tục của người Hoa cổ đại, sống đến lúc có cháu ngũ đại giữ ấm chân nhang của tổ tiên là sung sướng lắm lắm! Phúc to, phúc dày lắm lắm! Bởi thế cụ mới bế thằng bé, cháu ngũ đại, đứng giữa đời, giữa trời, nói:

- Nhờ giời, nhờ phúc ấm tổ tiên, ta được thế này, còn mong gì hơn nữa. Rồi cụ cười một hơi mà thác. Được thác như cụ mới thực sự được về cõi tiên cảnh nhàn du. 

Cụ bà ra ôm lấy thi thể cụ ông và chít nội than rằng:

- Tôi cùng tuổi với chồng tôi. Phúc cũng đủ đầy, dày sâu, sao giời chẳng cho đi cùng…

Ai có thể ngờ, nói dứt lời cụ bà cũng đi luôn về nơi chín suối. Hai cụ được con cháu hợp táng. Vậy là sống bên nhau, có nhau, chết cũng ở bên nhau, có nhau. Hỏi còn phúc nào bằng. Và cụ được người đời đặt tên là Phúc.


Cụ thứ hai là cụ Lộc. Cụ Lộc tên thật là Đậu Từ Quân, làm quan đến chức Thừa tướng nhà Tấn. Nhưng cụ Đậu Từ Quân là một quan tham. Tham lắm. Cụ hưởng không biết bao nhiêu vàng bạc, châu báu, là của đút lót của những kẻ nịnh thần, mua quan, bán tước, chạy tội cho chính mình, cho con, cho cháu, cho thân tộc. 

Trong nhà cụ, của chất cao như núi. Tưởng cụ Đậu Từ Quân được như thế đã là giàu sang, vinh quang đến tột đỉnh. Cụ chỉ hiềm một nỗi, năm cụ tám mươi tuổi vẫn chưa có đích tôn. Do vậy cụ lo nghĩ buồn rầu sinh bệnh mà chết. Cụ ốm lâu lắm. Lâu như kiểu bị tai biến mạch máu não bây giờ. Cụ nằm đến nát thịt, nát da, mùi hôi thối đến mức con cái cũng không dám đến gần. Đến khi chết, cụ cũng không nhắm được mắt. Cụ than rằng:

- Lộc ta để cho ai đây? Ai giữ ấm chân nhang cho tổ tiên, cho bản thân ta?


Còn cụ thứ ba, cụ Thọ. Cụ Thọ tên là Đông Phương Sóc, làm Thừa tướng đời Hán. Triết lý làm quan của cụ Đông Phương Sóc là quan thì phải lấy lộc. Không lấy lộc thì làm quan để làm gì. Cụ coi buôn chính trị là buôn khó nhất, lãi to nhất. Nhưng cụ Đông Phương Sóc vẫn là quan liêm. Bởi cụ nhất định không nhận đút lót. Cụ chỉ thích lộc của vua ban thưởng. Được bao nhiêu tiền thưởng, cụ lại đem mua gái đẹp, gái trinh về làm thê thiếp. Người đương thời đồn rằng, trong dinh cụ, gái đẹp nhiều đến mức chẳng kém gì cung nữ ở cung vua. 

Cụ thọ đến 125 tuổi. Nên người đời mới gọi cụ là ông Thọ. Trước khi về chốn vĩnh hằng, cụ Thọ còn cưới một cô thôn nữ xinh đẹp mới mười bảy tuổi. Cụ Đông Phương Sóc bảo, cụ được thọ như vậy là nhờ cụ biết lấy-âm-để-dưỡng-dương.
Do cụ Đông Phương Sóc muốn có nhiều tiền để mua gái trẻ làm liều thuốc dưỡng dương, cho nên suốt cuộc đời của cụ, cụ chỉ tìm lời nói thật đẹp, thật hay để lấy lòng vua. Có người bạn thân khuyên cụ:

- Ông làm quan đầu triều mà không biết tìm lời phải, ý hay can gián nhà vua. Ông chỉ biết nịnh vua để lấy thưởng thì làm quan để làm gì.

Cụ Đông Phương Sóc vuốt chòm râu bạc, cười khà khà bảo:

- Làm quan không lấy thưởng thì tội gì mà làm quan. Can gián vua, nhỡ ra vua phật ý, tức giận, chém đầu cả ba họ thì sao?

Cụ Đông Phương Sóc 125 tuổi mới chịu từ giã cõi đời. Khi cụ chết thì con không còn, cháu cũng đã hết cơm hết gạo mà chắt đích phải làm ma, phải thay cha, thay ông, chở cụ nội. Vậy làm quan như cụ, thọ như cụ phỏng có ích gì?

Qua ba bức tượng Phúc, Lộc, Thọ người đời thấy, người Hoa Hạ thật là tài giỏi. Họ đã khéo xếp ba vị thừa tướng, ba tính cách khác nhau ở ba triều đại khác nhau để răn đời.

Trong ba điều ước Phúc, Lộc, Thọ ấy chỉ có thể được một mà thôi.



Tuesday, January 11, 2011

Viết i hay viết y?

 

Có một quy tắc bất thành văn về tính thẩm mỹ trong chữ Việt: hình chữ phải đẹp. Điều này dẫn tới hiện tượng “phá rào” với quy định viết i/y hiện nay.

Đó là quy định ngày 30.11.1980 của bộ Giáo dục về chính tả liên quan đến hai chữ y và i, như sau: “… trường hợp các âm tiết có nguyên âm i ở cuối thì viết thống nhất bằng i, trừ uy, như duy, tuy, quy…; thí dụ: kì dị, lí trí, mĩ vị. Chú ý: i hoặc y đứng một mình hoặc đứng đầu âm tiết vẫn viết theo thói quen cũ, thí dụ: ý nghĩa, y tế, ỉ eo, ầm ĩ, im, yêu”.


Hiện nay có những ý kiến trái chiều với quy định này.

Những điều còn bỏ qua

Chữ viết là quy ước, chuẩn mực chính tả cũng là quy ước. Chữ Việt là loại chữ viết ghi âm. Khi ta nói, mỗi tiếng là một âm tiết. Mỗi âm tiết gồm có ba bộ phận: âm đầu – vần – thanh điệu. Mỗi vần lại chứa các thành phần nhỏ hơn: vần = âm đệm – âm chính – âm cuối. Như vậy, âm đầu, vần (âm đệm, âm chính, âm cuối), thanh điệu là những yếu tố có liên quan đến chuẩn mực chính tả.

Quy định trên không chú ý tới thói quen khi viết âm tiết có bán nguyên âm đứng cuối được ghi bằng y hoặc i. So sánh tay/tai, hay/hai. Cùng một nguyên âm, có i đứng cuối thì sẽ đọc dài ra, có y đứng cuối thì đọc ngắn đi. Lúc này nguyên âm a thể hiện âm vị /ă/ nên không ít học sinh mắc lỗi viết tăy, hăy.
 

Quy định không nói tới công dụng của y hay i đứng cuối âm tiết để phân biệt hai vần uy/ui: thuý khác với thúi, quý khác với cúi…

Quy định cũng không đề cập tới quy tắc viết bằng chữ y trong những trường hợp:

+ Viết yê, ya khi nguyên âm đôi này đứng sau âm đệm /w/: Nguyễn Khuyến, đêm khuya.

+ Viết y sau chữ qu~ (bán nguyên âm u đứng sau /k/): quy luật, quy ước, quyền lực, quyết định…

+ Viết yê khi âm tiết vắng phụ âm đầu và là nguyên âm đôi /ie/: yến, yểm trợ, yêng hùng, niêm yết, uyển chuyển, yên tâm… Như vậy, viết yêu không phải là “viết theo thói quen cũ” như nhận định trong quy định đã nêu.

+ Dù đứng một mình hay đứng cuối trong các từ phiên âm thì gốc sao phải viết vậy: dao i nốc (inox → inoxydable → không gỉ), muối i ốt… Nguyên âm /i/ đứng cuối nhưng vẫn phải viết là khí ôxy, khí hy đrô.

Những điều chưa chuẩn

Quy định trên không chú ý tới một quy tắc bất thành văn về tính thẩm mỹ trong chữ quốc ngữ: hình chữ phải đẹp, nghĩa là có sự cân đối về độ cao giữa các con chữ trong từ ngữ. Khái niệm này được hiểu như sau:

– Ghép những phụ âm cùng độ cao với /i/ thì có khuynh hướng dùng i: si mê, mị dân, chim ri, rằn ri, rên rỉ, xanh rì, kẻ sĩ, vĩ mô, vi phạm, vì sao, vì vậy, vị trí... Gia Định Báo viết bán sỉ (số 6.5.1882), không thấy số nào viết bán sỷ. “Thói quen viết ỉ eo, ầm ĩ, im…” (quy định) phản ánh quy tắc này.

– Khái niệm cân đối còn được hiểu là trong một từ nếu con chữ một phụ âm nhô cao lên thì ta viết y nhằm tạo ra sự hài hoà trên dưới. Viết lý thì phần trên và phần dưới chữ này cân đối với nhau, còn viết lí thì phần dưới chữ này hơi bị hụt. Vì vậy trong báo Nông Cổ Mín Đàm năm 1902, chúng ta gặp: Lý văn Ngọc; chánh lý; chưởng lý; mạng lý (11.1); không lý vì bộ tướng vậm vỡ; có lý lắm (27.3). Cũng lý do tương tự, trong Gia Định Báo năm 1881, 1882 chúng ta gặp ký tên (26.12); thơ ký (12.2); trong kỳ 15 ngày (15.3)…; trong Nông Cổ Mín Đàm năm 1902, chúng ta gặp xem kỹ (6.3); ích kỹ (9.1, sai thanh hỏi); Nam-Kỳ; dầu thắng kỳ nhứt; anh lấy làm kỳ (24.7); chẳng kỳ lòng súng lớn nhỏ; cho kỷ càng (21.8, sai thanh ngã)… Chúng ta còn gặp thanh ny hồi tục, mỹ danh, làng Bình-hy… Cách viết Hoa Kỳ cũng nằm trong hệ thống trên. Trong những âm tiết vừa dẫn không gặp cách viết “trường hợp các âm tiết có nguyên âm i ở cuối thì viết thống nhất bằng i” như trong quy định.

– Còn “viết theo thói quen cũ, thí dụ: ý nghĩa; y tế...” vẫn phản ánh luật cân đối trong chữ quốc ngữ: dùng y trong ý nghĩa, y tế để có sự cân đối giữa hai tiếng trong một từ ghép.

– Trường hợp ngoại lệ “trừ uy (thì viết y) như duy, tuy, quy…” thì báo thời đó lại viết ngược lại: trong Nông Cổ Mín Đàm, chúng ta gặp nhơn gian qui Sở Khanh, vinh qui, Lão – kị – qui – y (3.4.1902).

– Kích thước con chữ cũng là một lý do thẩm mỹ: chữ i ngắn hơn chữ y tạo ra ấn tượng là một đối tượng nhỏ. Vậy nên có khuynh hướng dùng i ngắn cho những đối tượng tạo ra ý niệm nhỏ: li ti, tỉ mỉ, vi tính; chi li, chi tiết; chơi bi, sân si, lí nhí… chứ không ai viết chơi by, tỷ mỷ, chy ly, chy tiết, vy tính…

Có những thói quen ngôn ngữ không tìm được lý lẽ

Trong tiếng Pháp hiện nay có từ poids (trọng lượng). Thuở xưa, từ này được viết là pois. Tới thời Phục hưng có người cho rằng nó do từ Latinh pondus mà thành, vậy phải thêm d vào sau i mới đúng, thế là người ta đổi pois thành poids. Về sau có người chứng minh được pois chính do từ Latinh pensum (vật được cân xem nặng nhẹ thế nào) mà ra, nhưng người Pháp đã quen dùng poids mất rồi. Vậy là poids vẫn giữ nguyên cho đến ngày nay.

Trong tiếng Việt có những biến thể trong cách viết i/y. Một từ mĩ là đẹp, mọi người quen viết nước Mỹ, châu Mỹ nhưng lại viết mĩ mãn. Những biến thể như vậy gặp rất nhiều. Điều đó là bình thường, không có gì đáng tranh cãi.

Tóm lại: Cách viết i/y trong quy định của bộ Giáo dục không phù hợp với tâm lý người Việt và thực tế tiếng Việt nên chúng ta thường “vượt rào” hoặc mắc lỗi trước quy định này. Nên chấp nhận những biến thể trong cách viết i/y.

GS.TS Nguyễn Đức Dân (Theo SGTT ngày 10/1/2011)

 

 

Sunday, December 19, 2010

Ý nghĩa thật của Giáng Sinh

Chỉ một tuần trước Giáng Sinh tôi có một vị khách. Đây là câu chuyện xảy ra. Tôi vừa làm xong việc dọn nhà cho tối hôm đó và chuẩn bị đi ngủ, khi đó tôi nghe thấy một tiếng động ở trước cửa. Tôi mở cửa phòng tiền sảnh và thật ngạc nhiên, chính Santa bước ra bên cạnh lò sưởi.

“Ngài đang làm gì vậy?” Tôi bắt đầu hỏi. Tôi nghẹn những lời đó khi tôi thấy ông có những giọt nước mắt. Phong thái vui nhộn thường thấy của ông biến mất. Tâm hồn háo hức rộn rã chúng ta đều biết cũng biến mất. Ông khi đó trả lời tôi với một tuyên bố đơn giản…

“DẠY CHO BỌN TRẺ!” Tôi bối rối. Ý ông là gì? Ông đoán trước câu hỏi của tôi và với một cử chỉ nhanh mang ra một túi đồ chơi nhỏ xíu từ đằng sau cái cây. Khi tôi đứng tá hỏa, Santa nói, “Dạy bọn trẻ!”

”Dạy chúng ý nghĩa cũ của Giáng Sinh. Ý nghĩa mà Giáng Sinh thời nay đã quên.” Rồi Santa với trong túi và lôi ra một CÂY THÔNG và đặt nó trước lò sưởi. “Dạy bọn trẻ rằng màu xanh thuần khiết của cây thông oai nghiêm luôn xanh quanh năm, minh họa cho niềm hy vọng mãi mãi của nhân loại, tất cả các lá thông hướng lên thiên đàng, làm cho nó thành một biểu tượng của suy tư của con người hướng về phía thiên đàng.”


Ông lại với vào túi và lấy ra một NGÔI SAO chói lọi. “Dạy bọn trẻ rằng ngôi sao là dấu hiệu thiên thần của những lời hứa từ xa xưa. Thượng Đế hứa một Đấng Cứu rỗi cho thế giới, và ngôi sao là dấu hiện của sự hoàn thành lời hứa đó của Chúa.”

Ông lại với vào túi và lấy ra một CÂY NẾN. “Dạy bọn trẻ rằng cây nến tượng trưng cho Đấng Christ là ánh sáng của thế giới, và khi chúng ta thấy ánh sáng vĩ đại này chúng ta được nhắc nhở về Chúa, người đã thay thế tối tăm.”


Một lần nữa ông với vào túi và lấy ra một VÒNG NGUYỆT QUẾ và đặt nó lên cây. “Dạy bọn trẻ rằng vòng nguyệt quế tượng trưng cho bản chất thật của tình yêu. Tình yêu thật không bao giờ dừng lại. Tình yêu là vòng tròn liên tục của yêu thương.”

Ông lại lấy ra từ túi một HÌNH TRANG TRÍ của chính ông. “Dạy bọn trẻ rằng ta, Santa Claus, tượng trưng cho sự rộng rãi và thiện ý chúng ta cảm thấy trong tháng mười hai.”

Ông lại lấy ra một LÁ HOLLY. “Dạy bọn trẻ rằng cây holly đại diện cho sự bất tử. Nó đại diện cho vương miện gai đeo bởi Đấng Cứu thế của chúng ta. Những quả berry màu đỏ của cây holly đại diện cho tuyết rơi bởi Chúa.

Tiếp theo ông lấy từ trong túi ra một MÓN QUÀ và nói, “Dạy bọn trẻ rằng Thượng đế quá yêu thế giới nên đã cho đi con của ngài.” Cảm ơn tới Thượng đế vì món quà không lời diễn tả được này.

Santa tiếp theo với vào túi và lấy ra một CÂY MÓC KẸO và treo nó trên cây.
“Dạy bọn trẻ rằng cây móc kẹo đại diện cho móc của người chăn cừu. Cái móc trên trục để giúp mang lại những con cừu bị lạc trở về với bầy. Cây móc kẹo là biểu tượng rằng chúng ta là người canh giữ của các anh em.”

Ông với vào túi lần nữa và lấy ra một THIÊN THẦN. “Dạy bọn trẻ rằng đó là những thiên thần mang đến tin vui rực rỡ của sự sinh ra của Đấng cứu rỗi. Những thiên thần hát Vinh quang tới Chúa ở trên cao nhất, bình an trên thế giới và thiện chí tới con người.”


Bất ngờ tôi nghe thấy một âm thanh lách cách nhẹ, và từ túi ông lấy ra một CÁI CHUÔNG, “Dạy bọn trẻ rằng những con cừu lạc được tìm thấy bởi âm thanh của quả chuông, nó sẽ rung để mang nhân loại trở về nhà. Quả chuông đại diện cho sự dẫn dắt và trở về.


Santa nhìn lại và hài lòng. Ông nhìn lại phía tôi và tôi thấy sự lấp lánh vui trên đôi mắt ông. Ông nói, “Nhớ rằng, dạy bọn trẻ ý nghĩa thật của Giáng Sinh và không được đặt ta vào vị trí trung tâm, bởi ta chỉ là một người phục vụ khiêm tốn của Người đang sống, và ta quỳ xuống và thờ phượng ngài, Chúa của chúng ta, Thượng đế của Chúng ta.”

.
True Meaning of Christmas

Just a week before Christmas I had a visitor. This is how it happened. I just finished the household chores for the night and was preparing to go to bed, when I heard a noise in the front of the house. I opened the door to the front room and to my surprise, Santa himself stepped out next to the fireplace.

“What are you doing?” I started to ask. The words choked up in my throat and I saw he had tears in his eyes. His usual jolly manner was gone. Gone was the eager, boisterous soul we all know. He then answered me with a simple statement. . .

“TEACH THE CHILDREN!” I was puzzled. What did he mean? He anticipated my question and with one quick movement brought forth a miniature toy bag from behind the tree. As I stood bewildered, Santa said, “Teach the children!

Teach them the old meaning of Christmas. The meaning that now-a-days Christmas has forgotten. “Santa then reached in his bag and pulled out a FIR TREE and placed it before the mantle. “Teach the children that the pure green color of the stately fir tree remains green all year round, depicting the everlasting hope of mankind, all the needles point heavenward, making it a symbol of man’s thoughts turning toward heaven.”

He again reached into his bag and pulled out a brilliant STAR. “Teach the children that the star was the heavenly sign of promises long ago. God promised a Savior for the world, and the star was the sign of fulfillment of His promise.”

He then reached into his bag and pulled out a CANDLE. “Teach the children that the candle symbolizes that Christ is the light of the world, and when we see this great light we are reminded of He who displaces the darkness.”

Once again he reached into his bag and removed a WREATH and placed it on the tree. “Teach the children that the wreath symbolizes the real nature of love. Real love never ceases. Love is one continuous round of affection.”

He then pulled from his bag an ORNAMENT of himself. “Teach the children that I, Santa Claus, symbolize the generosity and good will we feel during the month of December.”

He then brought out a HOLLY LEAF. “Teach the children that the holly plant represents immortality. It represents the crown of thorns worn by our Savior. The red holly berries represent the blood shed by Him.

Next he pulled from his bag a GIFT and said, “Teach the children that God so loved the world that he gave his begotten son.” Thanks be to God for his unspeakable gift.


Santa then reached in his bag and pulled out a CANDY CANE and hung it on the tree. “Teach the children that the candy cane represents the shepherds’ crook. The crook on the staff helps to bring back strayed sheep to the flock. The candy cane is the symbol that we are our brother’s keeper.”


He reached in again and pulled out an ANGEL. “Teach the children that it was the angels that heralded in the glorious news of the Savior’s birth. The angels sang Glory to God in the highest, on earth peace and good will toward men.”


Suddenly I heard a soft twinkling sound, and from his bag he pulled out a BELL,. “Teach the children that as the lost sheep are found by the sound of the bell, it should ring mankind to the fold. The bell symbolizes guidance and return. 

Santa looked back and was pleased. He looked back at me and I saw that the twinkle was back in his eyes. He said, “Remember, teach the children the true meaning of Christmas and do not put me in the center, for I am but a humble servant of the One that is, and I bow down to worship him, our LORD, our GOD.”

Thế nào là đại học hàng đầu thế giới?

Kỳ 1) Sứ mệnh của trường đại học

Dương Phúc Gia
(Hiệu trưởng trường ĐH Nottingham Anh Quốc)


GS Dương Phúc Gia.
Những năm gần đây, GS Dương Phúc Gia, người Trung Quốc đầu tiên nhậm chức hiệu trưởng một trường ĐH nổi tiếng Anh Quốc (ĐH Nottingham), đã nhiều lần thẳng thắn phát biểu về sự yếu kém của giáo dục đại học Trung Quốc, được lãnh đạo nhà nước và giới chuyên môn rất quan tâm.
Dưới đây là phần lược dịch bài viết “Sứ mệnh và nội hàm văn hoá của trường đại học” của Dương Phúc Gia, đăng trên Thời báo Học tập số ra ngày 27/8/2007.

Bài này gồm 5 phần: – Sứ mệnh của trường ĐH; – Nội hàm văn hóa ĐH; – Gợi ý từ ĐH hàng đầu; – ĐH hàng đầu coi trọng những sinh viên như thế nào; – Trách nhiệm của sinh viên. Các phần ghi trong dấu ngoặc vuông là của người dịch.

I. SỨ MỆNH CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC

1. Sứ mệnh của trường đại học là gì?

ĐH Yale thuộc nhóm ĐH đứng đầu thế giới, liên tục mấy năm liền xếp thứ 3 trong bảng xếp hạng ĐH Mỹ, chỉ sau ĐH Princeton và ĐH Harvard. ĐH Yale thành lập năm 1701, hiện nay có 11.483 học viên, trong đó có 5.316 sinh viên (ở Học viện Yale) và 2.522 nghiên cứu sinh, 3.552 sinh viên các học viện chuyên ngành (ở 11 học viện, như Học viện Y khoa, Học viện Luật, Học viện Nhạc, v.v… đều tuyển người đã tốt nghiệp ĐH).

Sứ mệnh của ĐH Yale là gì? Điều đó đã được xác định ngay từ khi sáng lập trường, đó là: Đào tạo thủ lĩnh cho nhà nước và thế giới.

ĐH Yale là nơi đào tạo 5-6 Tổng thống Mỹ (Bush cha và con, Clinton …). Cho tới nay Yale đã đào tạo được 530 nghị sĩ quốc hội Mỹ, còn đào tạo cả Tổng thống cho Mexico và Đức, Thủ tướng cho Hàn Quốc, Bộ trưởng Ngoại giao cho Nhật Bản v.v…. Rất nhiều hiệu trưởng xuất sắc của các ĐH hàng đầu thế giới từng tốt nghiệp tại đây.

Về sau ĐH Yale còn đưa ra các sứ mệnh cơ bản của trường: Bảo vệ, truyền thụ, đẩy mạnh và làm phong phú tri thức và văn hoá.

Thoạt xem có thể có cảm giác tựa như các sứ mệnh đó chỉ là một đống từ ngữ, nhưng suy ngẫm kỹ sẽ có thể hiểu, nếu sứ mệnh chỉ có “truyền thụ tri thức” thì điều đó đều thích hợp với ngót 4000 ĐH Mỹ; nếu thêm “đẩy mạnh và làm phong phú” thì chỉ 3% số trường ĐH có thể đảm đương được nhiệm vụ đó; nếu lại thêm “văn hoá” nữa thì chỉ còn 1%; còn nếu thêm “bảo vệ tri thức và văn hoá” thì e rằng chưa tới 3 phần nghìn.

ĐH Yale có thư viện sách quý hiếm tốt nhất thế giới chính là để gánh vác sứ mệnh đó. Chẳng hạn chỉ ở đây mới có một số sách hoặc tư liệu độc bản trên thế giới.

Tóm lại, sứ mệnh của trường ĐH phải có tính đặc thù, tính khác biệt. Nếu sứ mệnh của ĐH này lại có thể dùng cho bất cứ ĐH nào khác thì cách diễn tả sứ mệnh đó sẽ không xác đáng lắm..

Học viên Công nghệ California [California Institute of Technology, viết tắt Caltech hoặc CIT] là một học viện đơn nhất, nhưng nó nghiên cứu những vấn đề KHKT cơ bản có tính thách thức nhất trong sự giao thoa của các khoa học. Nó đào tạo một loạt sinh viên kiệt xuất trở thành những thành viên có tính sáng tạo trong xã hội. Ở đây tuy không đề cập tới văn hoá ĐH, nhưng không có nghĩa là Caltech không có văn hoá, chỉ có điều nó chú trọng tới cái khác.

Caltech không được gọi là ĐH mà gọi là Học viện [institute], quy mô rất nhỏ. Năm 2005 toàn trường có 386 giáo viên và nghiên cứu viên, 2.172 sinh viên và nghiên cứu sinh. Khi mới thành lập trường này, Hội đồng Quản trị nhà trường đã quy định: “Dù ai làm hiệu trưởng cũng không được mở rộng quy mô nhà trường”. Caltech có sứ mệnh “Kết hợp giảng dạy và nghiên cứu khoa học để mở rộng tri thức nhân loại và đem lại hạnh phúc cho xã hội”.

Chính là dưới ảnh hưởng của nội hàm văn hoá như thế mà tại Caltech xuất hiện 32 giải Nobel, 31 chủ nhân giải Nobel, có đóng góp lớn làm phong phú kho tàng tri thức của loài người. Ngoài 32 giải Nobel, còn có nhiều cựu sinh viên kiệt xuất, trong đó có Chu Bồi Nguyên, nhà nguyên lão vật lý học của Trung Quốc (tiến sĩ Caltech năm 1928), Triệu Trung Nghiêu người đặt nền móng ngành vật lý hạt nhân Trung Quốc (tiến sĩ Caltech 1930), Đàm Gia Trinh người đặt nền móng di truyền học Trung Quốc (tiến sĩ Caltech 1936), Tiền Học Sâm nhà khoa học nổi tiếng Trung Quốc (tiến sĩ Caltech 1939) [cha đẻ tên lửa Trung Quốc]. Tất cả các vị đại sư đó đã đặt nền móng cho địa vị của Caltech trên thế giới. Trên 3 lĩnh vực hàng không-vũ trụ, khoa học sự sống và vật lý, Caltech là hàng đầu của hàng đầu thế giới. Trường nhỏ mà học vấn lớn, thật là đặc sắc!

2. Các yếu tố cơ bản để hoàn thành sứ mệnh của trường đại học.

Ngay từ năm 1931, ông Mai Di Kỳ hiệu trưởng ĐH Thanh Hoa từng nói “Một trường ĐH sở dĩ gọi là ĐH, tất cả là ở chỗ trường ấy có giáo sư giỏi hay không.”

Ông nói câu này vào thời điểm ĐH Thanh Hoa vừa cơ bản xây dựng xong, nhà trường bắt đầu đặt trọng điểm vào việc thu hút các đại sư chứ không quá chú ý tới việc xây dựng trường sở.

Thực ra một trường ĐH chỉ có trường sở to và đại sư thì chưa đủ. Cá nhân tôi cho rằng còn phải có “đại ái [tình yêu lớn]”.

Từ bài viết của chủ nhân giải Nobel James Tobin [Nobel kinh tế 1981], ông Richard C. Levin hiệu trưởng ĐH Yale dẫn ra mấy yếu tố cơ bản để thực hiện sứ mệnh của ĐH như sau: Thứ nhất, phải có tài sản hữu hình (tangible assets); thứ hai, phải có tài nguyên con người (human resources); thứ ba, phải có nội hàm văn hoá (internal culture).

Tài sản hữu hình không chỉ gồm có trường sở mà còn có thiết bị, thư viện. Cũng vậy, tài nguyên con người cũng không chỉ có đại sư mà còn có sinh viên và nhân viên quản lý. Một ĐH không có sinh viên giỏi thì không thể trở thành ĐH hàng đầu được.

3. Trường ĐH sứ mệnh không rõ ràng, không có đặc sắc thì sẽ không có triển vọng

ĐH Princeton 7 năm liền xếp hạng ĐH thứ nhất ở Mỹ. ĐH Harvard 3 năm qua cũng đồng xếp hạng thứ nhất nhưng lần gần đây lại tụt xuống thứ hai, nguyên nhân do Princeton có hai chỉ tiêu vượt trên Harvard. Thứ nhất, số lượng lớp nhỏ dưới 50 sinh nhiều hơn; thứ hai, số lượng cựu sinh viên đền ơn nhà trường nhiều hơn Harvard (không chỉ là tiền, mà nhiều hơn, là sự cảm ơn).

Có người cho rằng ĐH hàng đầu thì phải có số lượng nghiên cứu sinh nhiều hơn sinh viên, nhất định phải có học viện y khoa, nhất thiết phải là ĐH có tính tổng hợp. Nói như vậy không thích hợp với ĐH Princeton – trường này hiện chỉ có 6.677 học sinh, trong đó 4.678 sinh viên, 1999 nghiên cứu sinh. Năm 2006, ĐH Princeton chỉ trao tặng có 277 học vị tiến sĩ, 151 học vị thạc sĩ cuối cùng (không học tiếp); tỷ lệ học sinh với giáo viên (chế độ cả ngày) là 5:1; trường này không có học viện y khoa cũng như học viện luật và học viện quản trị kinh doanh (hiện nay ở Trung Quốc các ĐH hàng đầu hầu như đều có học viện quản trị kinh doanh, y khoa và luật khoa); nghiên cứu sinh chỉ chiếm 30% tổng số học sinh.

Nhưng ĐH Princeton tuyệt đối là ĐH đứng đầu thế giới. Vậy đâu là cái vĩ đại của ĐH Princeton?

Ngoài việc đào tạo 25 chủ nhân giải Nobel (trong đó 17 giải vật lý) và 12 chủ nhân giải Fields (cả nước Mỹ có 24 người được giải này), ĐH Princeton còn nổi tiếng về không khí học thuật tự do, khoan dung.

Rất nhiều trường ĐH Trung Quốc thiếu những đặc sắc như vậy. Trong 4 lần hội nghị giáo dục cao đẳng do Thủ tướng Ôn Gia Bảo triệu tập trong năm 2006, Thủ tướng có nói về 4 nỗi lo của ông: Thứ nhất, sở dĩ hiện nay Trung Quốc chưa hoàn toàn phát triển trong đó có một nguyên nhân là chưa có một ĐH nào có thể tổ chức theo mô hình đào tạo nhân tài phát minh sáng tạo KHKT, chưa có sự sáng tạo độc đáo của mình thì không thể đào tạo được nhân tài kiệt xuất cấp đại sư. Thứ hai, vấn đề chất lượng học tập của các trường ĐH cao đẳng; Thứ ba, vấn đề làm thế nào để trường ĐH có đặc sắc của mình. Thứ tư, các trường công ở Trung Quốc đã vay bao nhiêu tiền? 300 tỷ, 400 tỷ hay là 500 tỷ Nhân dân tệ?

Dương Phúc Gia (Yang Fu-jia, 1936-), tốt nghiệp ĐH Phục Đán (Thượng Hải), nhà vật lý nổi tiếng, Viện sĩ Viện Khoa học Trung Quốc, Phó Chủ tịch Hội KHKT Trung Quốc, Chủ tịch Hội KHKT Thượng Hải (1992-1996), Giám đốc Viện Nghiên cứu hạt nhân nguyên tử Thượng Hải thuộc Viện KH Trung Quốc (1987-2001).  

Năm 1984 được bình chọn là chuyên gia có cống hiến kiệt xuất cấp nhà nước.

Năm 1991 được bầu là Viện sĩ Viện KH Trung Quốc, Viện sĩ Viện KH thế giới thứ ba.

Từ 1998 được mời làm GS danh dự ĐH Vanderbilt (Mỹ). Ông cũng là Tiến sĩ KH danh dự ĐH Sōka (Nhật), Tiến sĩ Nhân văn danh dự ĐH bang New York, Tiến sĩ danh dự ĐH Hồng Công, ĐH Nottingham (Anh), và ĐH Connecticut (Mỹ). Dương Phúc Gia từng là Hiệu trưởng ĐH Phục Đán (1993-1998), từ 1996 là Ủy viên chấp hành Hội Hiệu trưởng các trường đại học trên thế giới.

Từ năm 2001 ông được mời làm Hiệu trưởng ĐH Nottingham (hai nhiệm kỳ liền), trở thành người Trung Quốc đầu tiên nhậm chức hiệu trưởng một trường ĐH nổi tiếng Anh Quốc.

(Còn tiếp)
Huy Đường lược dịch

Dương Phúc Gia
(Hiệu trưởng trường ĐH Nottingham Anh Quốc)


Khẩu hiệu của ĐH Harvard chỉ có
một từ: Veritas (chân lý, sự thật).
Trong phần II bài viết, GS Dương Phúc Gia nhấn mạnh, văn hóa đại học là văn hoá tìm kiếm chân lý, theo đuổi sự thật, tôn thờ tự do học thuật, và có tinh thần phê phán quyết liệt.

1. Thế nào là văn hoá đại học?
 

Trường đại học không chỉ là tồn tại vật chất khách quan mà còn là một dạng tồn tại văn hoá và tinh thần. Tồn tại vật chất của ĐH rất đơn giản: thiết bị, dụng cụ, trường sở v.v… Thế nhưng đại học sở dĩ gọi là đại học, mấu chốt là tồn tại văn hoá và tồn tại tinh thần của nó.

Văn hóa đại học là văn hoá tìm kiếm chân lý, là văn hoá nghiêm chỉnh coi trọng thực tế, là văn hoá theo đuổi sự tìm kiếm lý tưởng và hoài bão của đời người, là văn hoá tôn thờ tự do học thuật, văn hoá đề xướng lý luận gắn với thực tế, văn hoá tôn thờ đạo đức, văn hoá bao dung, là dạng văn hoá có tinh thần phê phán quyết liệt. Văn hóa đại học thể hiện một tính chung, cốt lõi và linh hồn của nó thì thể hiện ở tinh thần đại học.

Lời răn của nhà trường [nguyên văn chữ Hán Việt: “Hiệu huấn”; còn gọi là Khẩu hiệu truyền thống của nhà trường] là thứ tượng trưng cho tinh thần đại học, đó là kết tinh lịch sử và văn hoá nhà trường, là thể hiện tập trung ý tưởng tổ chức học tập của nhà trường, cũng là một biểu đạt ngắn gọn nội dung văn hoá riêng của nhà trường.

Một tờ báo từng tiến hành trưng cầu ý kiến của 4762 người với câu hỏi: “Bạn cho rằng trường đại học nào của Trung Quốc có khẩu hiệu truyền thống tốt nhất?” Kết quả, khẩu hiệu truyền thống của ĐH Thanh Hoa “Tự cường bất tức, hậu đức tải vật” [câu này lấy từ sách Kinh Dịch, ý nói yêu cầu học sinh mãi mãi phấn đấu tự cường tiến lên hàng đầu, có tinh thần đoàn kết hợp tác, nghiêm khác với bản thân, vô tư dâng hiến] được 54% số phiếu, xếp thứ nhất. “Tự cường bất tức” phản ánh tinh thần dân tộc Trung Hoa, câu này cũng được rất nhiều đại học Trung Quốc dùng làm khẩu hiệu truyền thống của mình.

Năm 2006 khi nói chuyện tại ĐH Yale, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào cũng dẫn câu “Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức” [Đạo trời vận hành mạnh mẽ vững bền, kẻ quân tử nên tự giác phấn đấu vươn lên không ngừng] [1] danh ngôn lưu truyền muôn đời này của Trung Quốc nhằm trình bày tinh thần tự cường không ngừng, khai phá sáng tạo bao năm của dân tộc Trung Hoa. 5.000 năm qua, sở dĩ dân tộc Trung Hoa đời đời không ngừng phấn đấu, trải bao trắc trở mà không bị khuất phục chính là nhờ dựa vào tinh thần quyết tâm vươn tới hùng cường, dung nạp bao quát tất cả các mặt, ngày càng tiến lên. Mọi thành tích giành được từ cải cách mở cửa tới nay cũng là sự khắc họa tinh thần đó.

Khẩu hiệu truyền thống của ĐH Phục Đán “Bác học nhi đốc chí, thiết vấn nhi cận tư” [Người có lý tưởng cao xa thì phải có trí thức phong phú, phải luôn nghi ngờ đặt câu hỏi và luôn suy nghĩ sâu sắc] [2] được xếp hạng thứ hai. Giáo sư Lý Chính Đạo [Nobel vật lý 1957 cùng Dương Chấn Ninh] đặc biệt thích chữ thứ hai trong mỗi câu trên: học và vấn (hỏi). Học hỏi [chữ Hán: học vấn] tức là phải hỏi vấn đề chứ không phải là trả lời vấn đề.

Thế nhưng tôi phát hiện ra sự khác biệt văn hoá rất lớn giữa nước ta với phương Tây. Phụ huynh các nước Anh, Mỹ thấy con đi học về đều hỏi: “Hôm nay con hỏi được mấy vấn đề?” Còn ở ta, phụ huynh hỏi: “Hôm nay con được mấy điểm?”

Có lần tôi thấy một người đến cơ quan làm việc với vẻ mặt rất không vui, tôi hỏi: “Hôm nay ông sao thế? ” Ông ta trả lời: “Tôi đang tức điên người vì con bé nhà tôi thi được có 99 điểm”. Tôi bảo: “Tôi làm ngành vật lý cho nên biết là theo lý thuyết sai số, kém 1 điểm vẫn đạt trình độ quốc tế đấy ạ”. Ông ta nói: “Kém 1 điểm liệu có thể được vào ĐH Phục Đán chăng?” Tôi chẳng biết nói gì nữa. Chế độ thi cử của chúng ta hiện nay rất nghiêm ngặt, điều đó có ảnh hưởng sâu sắc tới văn hoá ĐH của chúng ta.

Einstein từng nói: “Tôi không có tài năng gì đặc biệt cả, chẳng qua là thích hỏi cho ra nhẽ mà thôi”. Teller cha đẻ bom khinh khí Mỹ mỗi lần đến phòng thí nghiệm đều đặt ra các câu hỏi này nọ, mỗi ngày ít nhất ông nêu ra 10 vấn đề, nhưng thường thường có 8-9 vấn đề sai. Có điều cái sáng tạo vĩ đại của ông lại chính là ở 1-2 vấn đề đúng kia. N. Bohr, một trong những nhà vật lý vĩ đại nhất thế kỷ XX từng nói: “Không có câu hỏi nào ngu ngốc cả”.

2500 năm trước đây loài người đưa ra câu hỏi “Thế giới cấu tạo như thế nào”, – câu hỏi này đánh dấu sự khởi đầu của khoa học tự nhiên. Bởi vậy, các bạn trẻ cần dũng cảm nêu vấn đề, không nêu ra được vấn đề thì sẽ không có sáng tạo. Điều này nên trở thành một bộ phận cấu thành quan trọng trong nội dung văn hoá ĐH của chúng ta.

2. Văn hóa đại học là văn hoá tìm kiếm chân lý, nghiêm chỉnh theo đuổi sự thật

Khẩu hiệu truyền thống của ĐH Harvard chỉ có một từ: Truth (chân lý, sự thật; có người dịch là Hãy để sự thật kết bạn với ta). Theo đuổi chân lý mà không mê tin quyền uy. Văn hóa ĐH là văn hoá theo đuổi chân lý, nghiêm chỉnh tìm kiếm sự thật.

Cách đây không lâu tôi có gặp ông hiệu trưởng Harvard vừa mới từ chức. Ông ấy kể là khi ông còn làm hiệu trưởng, có một sinh viên mới vào trường này bảo ông: “Em luôn luôn theo dõi các số liệu của thầy, trong đó có các số liệu sai đấy ạ”. Một sinh viên mới toanh mà có thể bảo thầy hiệu trưởng “Thầy sai rồi”, – đó là văn hoá của ĐH Harvard: ý tưởng thắng quyền uy. Trường ĐH nào có được văn hoá như thế thì trường ấy có thể trở thành đại học hàng đầu thế giới.

Khẩu hiệu truyền thống của ĐH Yale là Light and Truth (Ánh sáng và chân lý). Trong diễn văn đọc tại ĐH Yale ngày 21/4/2006 , Chủ tịch Hồ Cẩm Đào nói: “Khẩu hiệu truyền thống của ĐH Yale nhấn mạnh sự theo đuổi ánh sáng và chân lý, điều đó phù hợp với phép tắc tiến bộ của loài người, cũng hợp với tâm nguyện của mỗi thanh niên có chí hướng”.

Khẩu hiệu truyền thống của ĐH Washington là “Qua chân lý giành lấy sức mạnh”.

Các khẩu hiệu nói trên đều sử dụng từ chân lý.

Thế nhưng trong các đại học ở nước chúng ta hiện nay lại xuất hiện rất nhiều chuyện gian lận giả dối: hiện tượng dối trá cấm mãi chẳng được, gian lận học thuật thường xuyên xảy ra, các thông tin khai báo dối trá lừa gạt v.v…

Hồi tôi làm hiệu trưởng, việc khiến tôi xấu hổ nhất là gì, các bạn biết không? Là nhận được công văn của các trường đại học bên Mỹ yêu cầu tôi chứng minh bản khai thành tích học tập của các sinh viên Trung Quốc bên ấy họ nhận được là thật hay giả – đây là công văn chuyên gửi sang hỏi Trung Quốc. Ngoài ra còn có chuyện sinh viên Trung Quốc không xin được thẻ tín dụng. Khi sang Anh Quốc, tôi cảm thấy rất tự hào vì tôi là người Trung Quốc đầu tiên được đội mũ vành mạ vàng của nước Anh, nhưng chẳng bao lâu tôi cảm thấy mình thẹn đỏ cả mặt vì có sinh viên Trung Quốc nói với tôi: “Chúng em lxin ngân hàng Anh Quốc cấp thẻ tín dụng nhưng họ không duyệt, vì học sinh Trung Quốc nhiều lần có hạnh kiểm xấu [ý nói có hành vi gian lận trong sử dụng thẻ tín dụng] cho nên họ nhất luật không cấp thẻ tín dụng”.

Ngày hội nhà giáo năm 2005, Thủ tướng Ôn Gia Bảo trích dẫn câu nói của Đào Hành Tri “Dạy muôn nghìn lần, dạy người tìm kiếm sự thực thà; học muôn nghìn lần, học làm người thực thà” [3]. Sở dĩ Thủ tướng chú trọng câu này, tôi cho rằng điều đó có liên quan tới chuyện hiện nay chúng ta thiếu văn hoá theo đuổi chân lý.

3. Văn hóa đại học là văn hoá tôn thờ tự do học thuật 

Khẩu hiệu truyền thống của Học viện Caltech “Chân lý làm con người được tự do” chính là sự thể hiện thứ văn hoá đó.

Hiệu trưởng ĐH Yale nói: “Chỉ có tự do khám phá, tự do biểu đạt thì mới có thể thực sự khai thác được tiềm năng của nhân loại”.

Trong buổi gặp gỡ tâm sự với các nhà văn học nghệ thuật ngày 13/11/2006, Thủ tướng Ôn Gia Bảo chín lần nhấn mạnh tự do. Ông còn dẫn lời Marx và Engels viết trong Tuyên ngôn của đảng cộng sản: “Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện phát triển tự do của tất cả mọi người” Thủ tướng nói đến tự do trong trường hợp như trên, tôi cảm thấy điều đó có ý nghĩa rất sâu sắc.

4. Văn hóa đại học là văn hoá đề xướng lý luận gắn với thực tế

Học viện Công nghệ Massachusetts tôn thờ phương châm lý luận gắn liền với thực tế. Khẩu hiệu truyền thống của trường này là “Suy nghĩ và bắt tay vào làm” (Mind and Hand).

Khẩu hiệu truyền thống của ĐH Nottingham “Đô thị xây dựng bằng trí tuệ”, dùng ngôn ngữ hiện đại giải thích là “Trường đại học là động cơ của tăng trưởng kinh tế”. Một đô thị muốn trở thành đại đô thị quốc tế hóa thì phải có hậu thuẫn là trường đại học hàng đầu. Trường đại học đem lại cho đô thị không những sự nhảy vọt về vật chất và kinh tế mà còn đem lại sự nâng cấp về văn minh tinh thần và tu dưỡng văn hoá.

5. Văn hóa đại học là văn hoá tôn thờ đạo đức

Nói tới đạo đức, ngôi trường đại học có ý nghĩa đích thực đầu tiên của nước Mỹ – ĐH Pennsylvania – có câu khẩu hiệu truyền thống nói về đạo đức: “Mọi phép tắc không có đạo đức đều uổng công vô ích”.

Khẩu hiệu truyền thống của ĐH Giao thông Thượng Hải cũng thể hiện hàm ý đạo đức hết sức sâu sắc: “Uống nước nhớ nguồn, yêu nước, làm vẻ vang nhà trường”. Uống nước nhớ nguồn, nói theo tiếng Anh là Thanksgiving, tức cảm ơn.

Nhưng hiện nay tại rất nhiều đại học kể cả các đại học danh tiếng ở nước ta lại có những tiếng nói trái tai: một số học sinh đến từ nông thôn không muốn găp cha mẹ mình, cảm thấy việc gặp ấy không đẹp mặt mình. Nhưng nếu cha mẹ giàu có thì lại cảm thấy gặp cha mẹ là chuyện rất vẻ vang. Bởi vậy, tôi nhớ tới một câu nói ĐH Harvard đề xướng: “Một người có thể có thành tích hay không, chẳng những chỉ xem chỉ số thông minh IQ, mà còn nên xem chỉ số tình cảm EQ và hơn nữa, xem chỉ số đạo đức của người đó”. [4]

Nhiệm vụ cơ bản của giáo dục tiểu học, trung học cho đến đại học là đào tạo người công dân tốt cho xã hội. Tôi rất tán thành câu nói của Viện sĩ Cầu Pháp Tổ: “Muốn làm người thầy thuốc tốt thì phải làm con người tốt”.

Tại Mỹ, sinh viên học xong 4 năm đại học mới được vào Học viện Y khoa. Về sau Anh Quốc thấy được cái hay của việc đó. Cách đây 4 năm, ĐH Nottingham thành lập một học viện Y khoa, chỉ sinh viên đã tốt nghiệp đại học mới được vào học; điều kiện quan trọng đầu tiên trong tuyển sinh là xem phẩm chất con người đó chứ không phải xem thí sinh đã học chuyên ngành sinh vật hay khoa học tự nhiên. Hơn nữa còn đặc biệt nhấn mạnh: “Muốn làm thầy thuốc, trước hết phải biết làm con người như thế nào, biết cách đối xử với con người, lấy con người làm gốc.”

Năm 1998, UNESCO họp “Đại hội đón chào giáo dục cao đẳng thế kỷ XXI”, khi phát biểu tổng kết cuộc họp, Tổng Thư ký UNESCO nói: Nhà trường phải dạy học sinh học cách làm người, học cách sinh tồn (learn to be), học kiến thức (learn to know), học cách nắm được các kiến thức đó (learn how to learn), lại còn phải dạy học sinh học được cách sống chung với người khác (learn to deal with the others).

6. Văn hóa đại học là văn hoá tôn thờ tinh thần yêu nước

Câu “Yêu nước, làm rạng danh nhà trường” trong khẩu hiệu truyền thống của ĐH Giao thông Thượng Hải thể hiện trình độ cao của đạo đức, thể hiện tinh hoa văn hoá Trung Quốc.

Ngày 4/7/2001, tôi chính thức ngồi vào vị trí Hiệu trưởng (Chancellor) ĐH Nottingham. Khi lần đầu tiên lá cờ đỏ 5 sao được kéo lên trên sân trường đại học Anh Quốc, tôi cảm thấy rất đỗi tự hào. Tôi muốn nói với mọi người rằng đây không phải là chuyện cá nhân tôi thế nào, mà là chuyện tổ quốc tôi đã lớn mạnh. Thiết nghĩ 20 năm trước tôi không thể có được vị trí này.

Một bạn người Hoa mắt đẫm lệ nói với tôi: “Chẳng ai ngờ chiếc mũ viền vàng duy nhất của ĐH Nottingham hôm nay được trao cho một người Hoa đích thực”…  “Mỗi người Hoa đều có một giấc mơ, mơ ước làm sao cho Trung Quốc 5 nghìn năm văn hiến có thể đứng lên được trên thế giới này. Phải đứng thẳng lên, đứng cho vững!”

Đặng Gia Tiên từng nói: “Đối với một nhà khoa học, còn có gì đáng kiêu hãnh và tự hào hơn là được dâng hiến toàn bộ tri thức và trí tuệ của mình cho tổ quốc, làm cho dân tộc Trung Hoa thoát khỏi số phận bị nước ngoài xâu xé?” Ông là bạn học của Dương Chấn Ninh, hai người cùng lấy bằng tiến sĩ ở Mỹ.

Năm 1971 Dương Chấn Ninh về Trung Quốc có gặp Đặng Gia Tiên và hỏi: “Trung Quốc phát triển vũ khí hạt nhân có người nước ngoài giúp hay không?” Dương hỏi câu này rất tự nhiên, vì hai phần ba nhà khoa học hạt nhân của Mỹ đều là người châu Âu; Liên Xô cũ khi phát triển vũ khí hạt nhân cũng dựa vào sự giúp đỡ của các nhà khoa học châu Âu.

Một tuần sau, khi Dương Chấn Ninh đang ăn cơm tối tại Thượng Hải thì nhận được một mẩu giấy của Đặng Gia Tiên, trong có viết: “Tôi đã điều tra rồi, đúng là kết quả tự lực cánh sinh của Trung Quốc”. Đọc xong mẩu giấy đó, Dương ứa nước mắt vì cảm động.

Vu Mẫn là một nhà vật lý tôi kính trọng nhất, tuy chưa từng học tập ở nước ngoài nhưng ông đã có cống hiến lớn cho nhà nước chúng ta, có người gọi ông là “Cha đẻ bom khinh khí Trung Quốc”. Vu Mẫn từng nói một câu: “Dân tộc Trung Hoa không bắt nạt người khác, cũng quyết không chịu để người khác bắt nạt; vũ khí hạt nhân là một biện pháp bảo đảm điều đó”. Viện sĩ Vu Mẫn nói lên động lực thúc đẩy ông làm việc. 
Tình cảm dân tộc và tư tưởng yêu nước chất phác ấy cũng là động lực khiến tôi có được sự tiến bộ trong công việc.

Tinh thần yêu nước là phần rất đặc sắc trong văn minh Trung Hoa cổ xưa, nhưng nó quyết không phải là thứ văn hóa sở hữu riêng của Trung Quốc mà có tính phổ quát trên toàn thế giới. Trong diễn văn đọc tại ĐH Yale ngày 21/4/2006, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào từng nói: “Nathan Hale anh hùng dân tộc Mỹ cựu sinh viên ĐH Yale, có một danh ngôn – “Điều đáng tiếc duy nhất của tôi là không có cuộc đời thứ hai để hiến dâng cho Tổ quốc mình”.

Tôi có một người bạn Mỹ là cựu Tư lệnh Bộ đội chiến lược Mỹ, tướng 4 sao, từng có hơn 5.000 giờ bay, từng lái đủ mọi kiểu máy bay quân sự. Có lần tôi hỏi vợ ông: “Ông nhà bà bay nhiều như thế, bà có sợ gì không”. Bà ấy trả lời rất rõ ràng: “Nói không sợ là giả dối. Dĩ nhiên tôi sợ chứ. Nhưng vì lợi ích của nước Mỹ, ông ấy nhất thiết phải làm như thế”.

Người Mỹ có câu: For the interests of the United States [Vì lợi ích của Hợp Chúng Quốc]. Hồi Tổng thống Nixon sang thăm Trung Quốc, có người hỏi: “Ông đến đây làm gì?” Ông trả lời: “Vì lợi ích của nước Mỹ!”

Gates Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ từng là Hiệu trưởng ĐH Nông nghiệp và Cơ khí; khi nhận được thông báo của Tổng thống đề nghị ông ra làm Bộ trưởng Quốc phòng, ông từng viết thư cho rất nhiều bạn bè, trong đó có câu “Tổng thống Mỹ đã tuyên bố bổ nhiệm tôi làm Bộ trưởng Quốc phòng. Tôi cảm thấy rất hân hạnh, đồng thời cũng cảm thấy một nỗi buồn sâu sắc, bởi lẽ tôi vô cùng yêu mến trường đại học này, yêu mến tiểu bang nơi tôi đang sinh sống này. Nhưng tôi càng yêu Tổ quốc mình hơn. Tôi phải chấp hành chức trách của mình, vì thế tôi phải đi khỏi nơi đây”. [5]

Đấy chính là tình yêu lớn! Tình yêu lớn trước hết phải yêu nồng nàn đất nước mình.

(Còn nữa)
Huy Đường lược dịch

Ghi chú của người dịch: 

[1] Toàn văn câu này lấy từ Kinh Dịch: Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức. Địa thế khôn, quân tử dĩ hậu đức tái vật. Nghĩa là kẻ quân tử nên như bầu trởi vận hành không nghỉ, dù gian nan phiêu bạt cũng không chịu khuất phục; kẻ quân tử phải có độ lượng giao tiếp rộng như trái đất, không thứ gì không thể gánh chịu được.

[2] Toàn văn câu này ở sách Luận Ngữ, Tử Trương-19: Bác học nhi đốc chí, thiết vấn nhi cận tư, nhân tại kỳ trung hĩ.

[3] Nguyên văn câu này: Thiên giáo vạn giáo, giáo nhân cầu chân, thiên học vạn học, học tố chân nhân. Ý nghĩa: mục đích căn bản của giáo dục là giúp người ta trở thành người chân chính; một người qua giáo dục cho dù kiến thức uyên bác nhưng thiếu nhân cách thì việc giáo dục người đó là thất bại. Ngày ngày ta học nhiều kiến thức nhưng chỉ khi nào ta học biết cách làm người thì mới thực sự nắm được các tri thức khác, tri thức ấy mới hữu dụng cho xã hội. Đào Hành Tri: (1891-1945), nhà giáo dục nổi tiếng, chiến sĩ dân chủ, một trong các nhà lãnh đạo Hội Cứu nước nhân dân Trung Quốc và Đồng minh Dân chủ Trung Quốc.

[4] Chỉ số đạo đức: Moral Intelligence Quotient (MQ).

[5] Robert Gates, sinh 1943, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ trong chính phủ của cả hai đảng Cộng Hòa (của Tổng thống Bush con) và Dân Chủ (Tổng thống Obama), từng làm việc 26 năm tại CIA, là Giám đốc CIA thời Tổng thống Bush cha; sau khi rời CIA ông làm Hiệu trưởng (president) Texas A&M University

Dương Phúc Gia
(Hiệu trưởng trường ĐH Nottingham Anh Quốc)


Cao đẳng Sư phạm Paris, nơi đào tạo
12 chủ nhân giải Nobel và 10 chủ nhân giải Fields.
Trong phần ba, GS  Dương Phúc Gia cho rằng, chỉ có thể được coi là đại học học hàng đầu khi ngôi trường đó đào tạo được những công dân tốt, có “tình yêu lớn” đối với giảng viên và sinh viên, bồi dưỡng cho sinh viên quan niệm đạo đức và phát huy thiên tài của sinh viên.
1. Giáo dục đại học phải đào tạo công dân tốt 

Vì sao nước Mỹ là siêu cường quốc? Trước hết Mỹ là một nước lớn giáo dục, hơn nữa là cường quốc giáo dục. Tỷ lệ học sinh nhập học giáo dục cao đẳng Mỹ hiện nay đã vượt trên 90%.

Trung Quốc chúng ta cũng là một nước lớn giáo dục; tỷ lệ học sinh nhập học giáo dục cao đẳng đã từ 1,4% năm 1978 tăng lên 23% hiện nay; tổng số sinh viên đã vượt quá 20 triệu, thứ nhất thế giới, nhưng chúng ta vẫn chưa phải là một cường quốc giáo dục.

Tư tưởng cơ bản của giáo dục Mỹ là đào tạo công dân tốt. Công dân được đào tạo tốt thì sẽ có người tài. Khẩu hiệu của ngành giáo dục Mỹ viết “Bảo đảm chất lượng giáo dục, bảo đảm giáo dục công bằng”.

Giáo dục phải đào tạo được công dân tốt cho xã hội. Tôi cảm thấy vấn đề làm thế nào để sinh viên đại học ngày nay trở thành công dân tốt là vấn đề rất quan trọng. Một nhà nghiên cứu sử từng nói, nền văn minh 5.000 năm của Trung Quốc rất vẻ vang, rất phong phú, nhưng thiếu một chữ “công”. Nền giáo dục truyền thống của chúng ta chú trọng trung và hiếu, trung là phải trung thành với vua, hiếu là phải hiếu thuận với cha mẹ; kết quả là “công đức” [1], cái không gian rất rộng này bị chúng ta bỏ qua mất.

Có người nói Thượng Hải sắp vượt Hồng Công. Đúng là xét về mặt xây dựng nhà cao tầng thì sẽ nhanh chóng vượt đấy, nhưng tố chất giáo dục thì sao? [2] Tố chất của công dân thế nào? Chúng ta còn phải đi một chặng đường rất dài để đạt được công đức. Điều quan trọng chính hiện nay là phải đào tạo công dân, đào tạo công dân tốt cho xã hội. Điều này nên trở thành nội dung quan trọng trong nội hàm văn hoá đại học.

2. Giáo dục đại học không thể thiếu được “Tình yêu lớn”

Tình yêu lớn là một điểm quan trọng trong nội hàm của văn hoá đại học. Xin nêu vài thí dụ sau đây để giới thiệu qua về chuyện các trường đại học hàng đầu yêu quý giảng viên và sinh viên như thế nào.

Ông Andrew Wiles, người Anh, năm 1985 được đề bạt là giáo sư chính thức của ĐH Princeton, nhưng 9 năm liền sau đó ông không viết một bài báo khoa học nào. Từ Hiệu trưởng cho tới Chủ nhiệm khoa đều không biết trong thời gian ấy ông làm gì và họ cũng chẳng để ý việc ông làm gì. Sau 9 năm trời, ông giải được bài toán khó 360 năm qua giới toán học thế giới chưa giải được – chứng minh được định lý lớn Fermat. Kết quả Andrew Wiles được tặng giải thưởng toán học cao nhất hiện nay – Giải Thành tựu đặc biệt Fields; cho tới nay ông là người duy nhất được trao giải thành tựu đặc biệt này. [3]

Giáo sư John Nash mắc bệnh tâm thần hơn 30 năm, nhưng sau khi ông mắc bệnh thì ĐH Princeton lại mời ông từ Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT) về trường mình, bố trí phòng làm việc cho ông, đem lại tình thương yêu ấm áp cho ông. Đồng thời người nhà và bạn đồng nghiệp đều hết sức quan tâm giúp đỡ Nash. Ba chục năm sau, huyền thoại xuất hiện: John Nash khỏe mạnh trở lại và năm 1994 được tặng giải Nobel [Kinh tế]. Đây chính là sức thu hút của ĐH Princeton! Câu chuyện của giáo sư John Nash được viết thành tiểu thuyết “Một tâm hồn đẹp” [4] rồi dựng thành phim, phim này đã đoạt giải Oscar.

Cho nên đại học có đại sư rồi lại còn phải có tình yêu lớn. Trường đại học hàng đầu phải là nơi chỗ nào cũng thấy những tâm hồn đẹp. “Tâm hồn đẹp” là nội hàm văn hoá của ĐH Princeton! Nhà trường quan tâm đến thầy giáo của mình, tạo môi trường thoải mái cho thầy, để thầy tự do sáng tạo.

Còn có một giáo sư người Mỹ gốc Hoa là ông Dương Tổ Hựu, hiện là Hiệu trưởng một đại học nổi tiếng ở Mỹ. Trong năm đầu tiên nhậm chức Hiệu trưởng, ông đã hơn 100 lần mời cơm hơn 900 giáo sư. Ông vô cùng quan tâm mọi người, coi người tài là thứ quý giá nhất. Kết quả trong thời gian ông làm Hiệu trưởng, trường này đã có 5 giáo sư được tặng giải Nobel. Ông vẫn kiên trì lên lớp giảng dạy cho sinh viên và 13 năm liền hướng dẫn nghiên cứu sinh.

Tại Học viện Y khoa ĐH Harvard, tôi có gặp một vị giáo sư già làm phụ đạo cho sinh viên. Tôi hỏi ông phụ đạo bao nhiêu học trò, ông đáp hơn 160 người. Lúc đó quả thực tôi không dám tin vào con số ấy. Hơn nữa, điều càng làm tôi khó có thể tưởng tượng là ông nắm vững tình hình mọi mặt của từng sinh viên như trong lòng bàn tay. Vì thế mọi người gọi ông là “Chuẩn cha mẹ”. Đây là tình yêu thầy trò. Ba nghìn năm trước, một triết gia từng nói: “Đầu óc không phải là cái vật chứa đựng mà nên là bó đuốc được đốt cháy”.

3. Giáo dục đại học phải bồi dưỡng cho sinh viên quan niệm giá trị, quan niệm đạo đức, quan niệm tư duy, phương thức làm người và năng lực công tác xã hội

Vì sao ĐH Yale có thể đào tạo được nhiều lãnh tụ như thế cho nước Mỹ và cho thế giới? 
Trường này có một quy chế yêu quý sinh viên, – cái này họ học được từ chế độ trọ học viện và chế độ thầy hướng dẫn của Anh Quốc. Hiệu trưởng ĐH Yale khiêm tốn nói, “Tất cả những người sau này trở thành Tổng thống đều là những sinh viên từng đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo các đoàn thể trong ký túc xá, dưới sự chỉ đạo của thầy hướng dẫn”.

Công tác xã hội cũng là một công việc học tập và rèn luyện quan trọng, là “giảng đường thứ hai” quan trọng! Các nhân vật kiểu Tổng thống, lãnh tụ đều được đào tạo từ các tổ chức này.

Một sinh viên tốt nghiệp ĐH Yale cho biết, nhà trường chẳng những bồi dưỡng cho anh những thứ có liên quan tới tri thức cụ thể, mà còn dạy cho anh giá trị quan, quan niệm đạo đức, cách làm người, thói quen suy nghĩ v.v… – những điều đó vô cùng quan trọng đối với cuộc đời anh. Tất cả những thứ ấy không phải là do một người nào dạy cho anh, mà là anh học được trong bầu không khí văn hoá tồn tại ở ĐH Yale. “Thế giới của chúng ta cần phải khác đi vì có sự tồn tại của bạn. Phấn đấu vì chân lý có nghĩa là tiếp thụ văn hoá tinh thần; tinh thần có thể làm cuộc sống con người trở nên phong phú”. Câu này chưa ai từng nói rõ cho sinh viên ĐH Yale, song tinh thần đó tràn trề trong bầu không khí khuôn viên nhà trường, vì thế nó thấm vào tới chỗ sâu kín nhất trong đầu óc mỗi sinh viên, sục sôi trong huyết quản của họ.

4. Nhiệm vụ của giáo dục đại học là phát huy thiên tài của sinh viên

ĐH Oxford có câu nói: “Thầy hướng dẫn có nhiệm vụ thổi lửa cho các học trò, cho tới khi ngọn đuốc trong lòng họ rực cháy”.

Trường Cao đẳng Sư phạm Paris đã không gọi là Học viện, lại cũng không gọi là đại học, mà chỉ gọi là trường học thôi, một cái tên chúng ta rất coi thường, thế mà họ giữ lại cái tên đó, không đồng ý thay đổi. Nhưng Cao đẳng Sư phạm Paris cũng là một đại học hàng đầu thế giới. Ông Hiệu trưởng trường này từng nói tại Bắc Kinh một câu như sau: “Nhiệm vụ của trường học là phát huy thiên tài của sinh viên”.

Trong Lễ kỷ niệm 350 năm ngày thành lập ĐH Harvard, vị Hiệu trưởng trường này nói: “Thứ Harvard đáng khoe nhất không phải là giành được bao nhiêu giải Nobel, đào tạo được bao nhiêu Tổng thống, mà là làm cho mỗi viên ngọc khi đã vào Harvard rồi thì đều tỏa sáng”. Trước hết, ông thừa nhận mỗi người vào Harvard đều là một viên ngọc (nguyên văn: cục vàng), ông có nhiệm vụ làm cho tất cả họ đều tỏa sáng. Ý tưởng tổ chức học tập của ĐH Oxford, Cambridge cũng đều nhằm khai thác phát huy tiềm năng của sinh viên, khích lệ tinh thần sáng tạo của mỗi người.

Chỉ cần ngòi lửa trong bộ não của mỗi người đều được cháy lên thì dù người ấy học đại học hay cao đẳng, họ đều có thể tỏa sáng. Những thí dụ như vậy ở đâu cũng có.

5. Chớ nên coi đào tạo người tài trình độ cao là mục tiêu duy nhất của giáo dục đại học

Các vị phụ huynh Trung Quốc chúng ta đều mong muốn con em mình có thể trở thành tiến sĩ. Chế độ nhân sự của ta cũng quy định lương của người có học vị tiến sĩ thì cao hơn người có học vị thạc sĩ.

Gần đây một vị bác sĩ bảo tôi, người làm việc ở bệnh viện nếu không có học vị tiến sĩ thì khó trụ nổi [5]. Cũng vậy, mới đây hai vị thầy thuốc đạo cao đức trọng nói cùng một câu thế này: “Rất lo sẽ có ngày chết trên bàn mổ của học trò mình!” (ý nói các bác sĩ ngoại khoa chỉ có bằng tiến sĩ mà không có kinh nghiệm lâm sàng).

Nhưng tại các bệnh viện ở Anh Quốc, người có học vị tiến sĩ chỉ chiếm khoảng 10% tổng số thầy thuốc. Học viện Y khoa Phân hiệu Los Angeles của ĐH California là y học viện hàng đầu thế giới, sinh viên tốt nghiệp đại học thi vào trường này cứ 5700 thí sinh chỉ có một người trúng tuyển (số liệu năm 2005). Trong 1.185 sinh viên hiện có tại học viện thì 700 người đặt mục tiêu là trở thành bác sĩ y khoa (M.D, tức Medical Doctor); 485 người đặt mục tiêu trở thành tiến sĩ nghiên cứu y học (Ph.D., tức Philosophic Doctor hoặc Doctor of Philosophy, gọi chung là tiến sĩ triết học). Cả hai đều là Doctor cả nhưng hàm nghĩa khác nhau, mục tiêu cũng khác nhau. [Trong tiếng Việt] M.D. dịch là bác sĩ, Ph.D. dịch là tiến sĩ; hai học vị này không có sự phân chia ai cao ai thấp, nhưng lương của bác sĩ nói chung cao hơn tiến sĩ.

Một bà y tá cấp cao hưởng lương cao hơn ông chồng mình có học vị tiến sĩ. Tại một bệnh viện trực thuộc Học viện Y thuộc Phân hiệu ĐH Los Angeles, số người có học vị tiến sĩ là 10 người, chưa bằng 10% tổng số thầy thuốc. Tại một bệnh viện thần kinh khác, số bác sĩ thần kinh là 183 người, số nhà tâm lý học (đều có học vị tiến sĩ) là 122 người nhưng hầu như chẳng có ai vừa là thầy thuốc là vừa là tiến sĩ.

Mỹ là quốc gia phát triển cao, trong số 3.688 trường viện đại học-cao đẳng có 60% là trường chuyên ngành và trường cộng đồng; còn các trường đại học kiểu nghiên cứu chỉ chiếm 3%. Nhưng tại Trung Quốc, số lượng đơn vị được phép cấp học vị tiến sĩ lại nhiều hơn cả nước Mỹ, tuy rằng số lượng trường đại học-cao đẳng chuyên ngành thì kém xa Mỹ. Đồng thời gần đây các trường đại học ở Trung Quốc không ngừng mở rộng tuyển sinh, ngày càng có nhiều bạn trẻ có cơ hội vào đại học. Thế nhưng rất nhiều vị phụ huynh coi thường các trường đại học-cao đẳng chuyên ngành. Chế độ thi đại học-cao đẳng của chúng ta cũng chưa hợp lý, đưa số thí sinh đạt điểm thi thấp vào các trường chuyên ngành.

Một điều đáng suy ngẫm sâu sắc là rất nhiều trường đại học-cao đẳng nước ta theo đuổi mục tiêu “nâng cấp” trường mình thành trường tổng hợp, dẫn đến tình trạng số lượng trường đại học-cao đẳng chuyên ngành ngày một giảm bớt!

Ngành giáo dục của chúng ta không thể chỉ theo đuổi sự biến đổi số lượng sinh viên đại học mà quan trọng hơn là phải luôn luôn nâng chất lượng cơ cấu giáo dục cao đẳng. Có thể ví trường đại học-cao đẳng chuyên ngành và trường tổng hợp như hai loại nhạc cụ trong cùng một dàn nhạc. Khi lập kế hoạch phát triển giáo dục đại học-cao đẳng, nên phối hợp phát triển hài hòa cả hai loại trường này.

(Còn tiếp)
Huy Đường lược dịch

Ghi chú của người dịch:

[1] Trong tiếng Trung, Công đức là đạo đức tồn tại trong quần thể xã hội rộng, phân biệt với Tư đức là đạo đức tồn tại trong quần thể nhỏ hoặc giữa các cá nhân.

[2] Các đại học ở Hồng Công đều được xếp hạng cao hơn các đại học ở Bắc Kinh và Thượng Hải.

[3] Ở đây có lẽ tác giả nhầm lẫn. Thực ra Andrew Wiles không được trao giải Fields vì đã quá giới hạn 40 tuổi (sinh 1953, chứng minh được định lý lớn Fermat năm 1994, khi ấy ông đã 41 tuổi). Ông được tặng Đĩa bạc (Silver Plaque) của International Mathematical Union (IMU) năm 1998; ngoài ra còn được tặng Notable awards Fermat Prize (1995), Wolf Prize (1995/6) và Royal Medal (1996).

[4] Tên bộ phim là “A Beautiful Mind“, dịch sang tiếng Trung thành Một tâm hồn đẹp là không sát nghĩa.

[5] Những năm gần đây TQ phát sinh tệ nạn sính bằng cấp tiến sĩ. Các đại học đua nhau tuyển nghiên cứu sinh (NCS) và “lạm phát” cấp bằng tiến sĩ; nạn đạo văn, gian lận trong việc làm luận văn và cấp bằng tiến sĩ rất phổ biến. Một cựu hiệu phó ĐH Bắc Kinh từng nói 70% nữ NCS trường ông bị thầy hướng dẫn “xài” (quấy nhiễu tình dục).