Saturday, December 18, 2010

Phrasal Verbs Collection 2

USING STILL, YET OR ALREADY 

► still means something is continuing usually later than expected :
- are you still asleep ? it's 3 pm

► already means something has happened sooner than expected :
- Nadinde has already left , she didn't want to wait for you .

► still and already go in the middle of the sentence , with one- word verb, they go before the main verb , but after be . with milti-word verbs, they go after the first auxiliary verb:

- i still find this map confusing . i'm already lost !!
- i've already been seen by the doctor, i'm still feeling ill.

► if there is a negative verb , it goes after still but before already :
- i still haven't seen that film, i hope you haven't already seen it .

► yet means we expect something to happen , it is used with question and negative , and goes at the end of a sentence :
- he hasn't waken up yet .


USING MAY INSTEAD OF MIGHT IN A SUBORDINATE CLAUSE 

 

don't say : last sunday Ailsa told me that she may come .
say : last sunday Ailsa told me that she might come .

► may changes to might in subordinate clauses , when the verb in the main clause is in the past simple tense .

► NOTE : the conjunction THAT is never preceded by a comma .

 


PHRASAL VERBS 

 

-EMPTY OUT: to be vacated by people 
The concert hall emptied out as soon as the concert was over.

-EVEN OUT: to make something measure the same as something else 
Max has trouble evening out his sideburns since one ear is lower than the other.

-FIND OUT: to learn or discover 
Mary was mad when she found out that she was adopted.

 


IDIOM OF THE DAY 

 

► Fishy = strange and suspicious

- When the security guard saw a light in the store after closing hours, it seemed to him that there were sometihgn fishy going on. He called the central office and explained to his superior that he thought something strange and suspicious was occuring.

 

VERB ING OR ED

BORING OR BORED 

-we use adjectives ending in ED to show how we feel about something:
eg: i'm interested in geology , i'm disappointed with my exam results.
- we use adjectives ending in ING to describe the thing which make us feel this way :
eg: geology is interesting ,my exam results are disappointing .

► FUN OR FUNNY 

- we use FUN to describe something we enjoy doing :
eg:Ice-skating is fun 
- we use FUNNY to describe something which meke us laugh, like a joke:
eg:John's very funny , he should be a comedian ?

► NERVOUS OR IRRITABLE 

- we feel NERVOUS when we are worried about something we are going to do ( e.g:do on a plane, make a speech,start a new job)
eg: he's nervous , he's about to do an exam .
- we feel IRRITABLE when we get annoyed or angry easly :
eg: she's very irritable in the morning .

 

exercise : Choose the correct word 
1- i was (disappointin/disappointed ) in the movie . i had expected it to be better .
2- are you ( interesting/ intereted) in soccer? 
3- the soccer game was quite (exciting/excited) . i had a great time.
4- it's sometimes ( embarrassing/ embassed) when you have to ask people for money .
5- Do you get ( embarrassing / embarrassed) easily?
6-i had never expected to get the job. I was really ( amazing/amazed) when it was offeredto me.
7-She has learned really fast.She had made (astonidhing/astonished) progress.
8- I did't find the situation funny.I was not (amusing/amused)
9-It was a really (terrifying/terrified) experience.Everybody was (shockin/shocked).
10- Why do you always look so ( boring/bored)? is your life really so (boring/bored) .
11- He never says anything (interesting/interesed) .

 

 

THE CONTINUOUS FORM OF THE TENSE MISUSED .

 

don't say : i'm understanding the lesson now.
say : i understand the lesson now .

► As a rule, verbs denoting a state rather than an act have no continuous forms like : understand, know, believe, like, love, belong, prefer, consist, mean, hear, see ...etc 

 

 

HOW DO I USE PRESENT TENSES TO TALK ABOUT THE FUTURE ?

 

► several different future forms are possible, but in general we most commonly use the present continuous to talk about an arrangement :
- i'm taking my exam tomorrow .

► we use WILL for instant reactions, predictions and promises:
- that's the doorbell ?? i'll get it .

► compare :

- i'll porbably stay in tomorrow night ( i've got no arranged plans)
- i'm playing squash tomorrow night ( i've already arranged it )

► we use the present simple for future timetabled events .
- compare :

- the plans leaves at 8 am ( timetabled event )
- i'm leaving the house at 5.30 am ( personel arrangement )


USING MUST OR OUGHT TO TO EXPRESS A PAST OBLIGATION 

 

don't say: you ought to come yesterday .
say : you ought to have come yesterday .
or : you should have come yesterday .

► don't use MUST and OUGHT TO as past tenses, to express a past duty ( which wasn't done) use the perfect infinitive without to after OUGHT TO or SHOULD or expressions such as HAD TO , WAS OBLIGED TO .

 

USEFUL AMERICAN IDIOMS

► push the boat out = spend more than usual

► small talk = polite conversation about unimportant things

► hit it off = like each other

► see comment for reading the short story :)

► i went to a big party last night , the hosts were celebrating something so they'd decided to push the boat out , there was a really good band , fantastic food and lots of drink, i chatted to a few people for the first hour, just the usual smal talk . then i met this great guy . we got talking and we really hit it off , i'm seeing him tomorrow.

ADJECTIVES: POSITION AFTER AS/HOW/SO/TOO

► Normally adjectives go after the article a/an:
e.g: a beautiful voice.

- but after as, how, too, so ans that/this meaning so, adjectives go before a/an:
- this structure is common in a formal style:
" as/how/so/too/this/that + adjective + a/an + noun"

e.g: i have as good a voice like you.
e.g: how good a pianist is he?
e.g: it was so warm a day that i could hardly work.
e.g: she is too polite a person to refuse .
e.g: i couldn't afford that big a car.

- the structure is not possible without a/an
e.g : i like your country.- it's so beautiful.( not : i like your so beautiful country)
e.g: those girls are too kind to refuse ( not: they are too kind girls to refuse).

 

Văn hóa uống nước chè, nước vối của người miền Bắc - Vũ Thế Long

Xưa kia trà Tàu là một thứ xa xỉ, người ta bán trà Tàu đựng trong các lọ sứ, lọ thủy tinh màu trắng đục hoặc các hộp thiếc. Cũng có loại được bán lẻ từng lạng gói trong giấy và được buộc bằng một thứ dây đặc biệt làm từ cói và cũng mang từ Trung Quốc sang.

 

 

          Người ít tiền muốn thưởng trà cũng có thể mua từng ấm trong gói giấy nho nhỏ trông giống như hình củ ấu nhọn đầu mà người uống trà xưa Hà Nội gọi là trà "củ ấu". Những thứ trà này ban đầu do người Hoa có cửa hàng ở phố hàng Ngang, hàng Đào buôn trà từ Trung Quốc đem bán ở Hà Nội. Vì thế mới có tên là trà Tàu. Khi ấy, có mấy hãng trà nổi tiếng là các hãng Ninh Thái, Chính Thái.....

          Trà Tàu là một trong những lễ vật quan trọng trong các đám hỏi của người Hà Nội. Trầu cau, mứt hạt sen, bánh xu xê, trà Tàu là những thứ thường có trong các đám hỏi. Sau lễ hỏi, nhà gái thường chia trà ra thành những phần nhỏ bỏ vào những bao cắt bằng giấy bóng kính đỏ đem chia cho họ hàng, bạn bè cùng mấy quả cau, dăm viên mứt sen như một thứ quà nhỏ nhưng cũng là một thông điệp long trọng báo tin vui về lễ cưới hỏi của người thân.

          Về tục uống chè, pha chè của người Việt Nam và của người Hà Nội thì đã có quá nhiều người viết, đã có những áng văn bất hủ về văn hóa uống chè Tàu. Ở đây, tôi chỉ hồi nhớ lại những gì về chè Tàu mà một người Hà Nội như tôi được biết.

          Gia đình tôi chỉ là một gia đình viên chức trung bình. Vào những thời điểm trước năm 1954, uống chè là một chuyện hãn hữu trong nhà tôi. Thông thường thì mọi người chỉ uống chè hạt, nụ vối hoặc nước lọc thôi. Năm thì mười họa mới có dịp uống chè Tàu trong những dịp lễ tết mà trẻ con thì tuyệt đối không biết chè Tàu là gì cả. Hồi ấy, người ta có câu hát:

Bà ơi cho cháu một xu

Cháu mua bánh gù cháu gửi về Nam

Bố cháu đi làm trà Tàu thuốc lá

Mẹ cháu ở nhà khổ quá bà ơi !

          Thế nhưng, bố tôi cũng đi làm mà chẳng thấy ông chè Tàu thuốc lá bao giờ. Trong mắt của người Hà Nội xưa thì cờ bạc - rượu chè và cuối cùng là trai gái là những biểu hiện của xấu xa, trác táng.

          Phải kể thêm rằng trà Tàu người Hà Nội xưa thưởng thức gồm hai loại: chè xanh và chè mạn. Có tài liệu ghi chép rằng chè mạn có xuất xứ từ vùng Mạn Hảo thuộc tỉnh Vân Nam bên Trung Quốc. Chè xanh cũng khác với loại chè Thái có vị chát được uống rất phổ biến hiện nay. Nếu muốn tìm lại thứ chè mạn xưa, hiện nay ở Hà Nội chỉ có vài người còn giữ lại cách chế biến ấy. Đa phần sản phẩm chế biến cầu kỳ của người uống chè sành điệu xưa của Hà Nội được giành để gửi đi Paris, hay sang Mỹ, nơi vẫn còn một cộng đồng người Hà Nội cũ sống xa tổ quốc nhưng vẫn giữ được khá nguyên vẹn nhiều lối uống, lối ăn cổ truyền của Hà Nội xưa. Lối chế biến chè mạn theo kiểu này rất công phu và cầu kỳ. Chè nguyên liệu ở đây được thu hái từ vùng núi cao Hà Giang. Ở đây vẫn còn những rừng chè cổ thụ. Nhiều gốc chè lớn đến mức mấy người ôm không xuể. Những loại chè này được đóng thành bánh khô và cất trữ hàng năm rồi mới đem ra chế biến. Trước khi chế biến, chè được rửa nước sấy khô với nhiều công đoạn rất phức tạp, sau cùng mới là công đoạn ướp hương sen. Người làm chè sen thường phải thửa sẵn hoa sen từ những đầm sen đặc biệt và hoa sen phải được thu hái vào sáng sớm tinh mơ rồi đem ngay về lò ướp, sấy chè. Loại chè này có hương vị vô cùng đặc biệt và không bị quá chát hoặc gây mất ngủ như chè Thái được tiêu thụ phổ biến trên thị trường ngày nay.

          Vào những năm đầu của thập kỷ 60, trong các cửa hàng giải khát quốc doanh của Hà Nội vốn đã ít ỏi các mặt hàng uống, khách hàng có thể gọi một ấm trà và cửa hàng sẽ đem phục vụ khách một bộ ấm trà, gói trà nhỏ bọc trong giấy báo hoặc trút sẵn vào ấm kèm theo là một cái phích nước sôi có vỏ đan bằng tre nhập từ Trung Quốc. Khách uống trà có thể ngồi hàng giờ nhâm nhi chén nước trong cửa hàng và tha hồ trò chuyện. Lúc ấy, dân số Hà Nội cũng không đông như bây giờ nên cửa hàng cũng chỉ lèo tèo dăm đám khách nhàn rỗi mà thôi.

          Chiếc phích nước nóng là một sản vật đặc biệt rất cần thiết cho người uống trà. Trước năm 1954, phích nước là vật dụng khá đắt tiền, chưa phổ biến lắm trong mọi tầng lớp dân chúng ở Hà Nội. Phích làm bằng thủy tinh, có vỏ sắt và thường cũng không có những loại lớn như phích 1,5 lít, 2 lít sau này. Người ta dùng phích nước nóng chủ yếu là để giữ nước nóng pha sữa bò cho trẻ sơ sinh trong các gia đình khá giả. Sau năm 1954, người ta nhập về những chiếc phích vỏ tre từ Trung Quốc và kiểu pha trà từ những phích nước sôi chứ không phải đun nước quạt lò theo lối cổ cũng thịnh hành ở Hà Nội từ ngày ấy. Sau này, nhà máy bóng đèn phích nước Rạng Đông ở Hà Nội ra đời hàng năm đã cung cấp cho thị trường hàng loạt các phích nước theo kiểu Trung Quốc. Những chiếc phích này là bạn đồng hành của những người uống trà cũng như những quán cóc bên đường. Tuy Hà Nội đã có nhà máy sản xuất ra phích nước, bóng đèn nhưng suốt trong thời kỳ chiến tranh và thời kinh tế bao cấp, chiếc phích nước nóng và bóng đèn điện vẫn là một vật hiếm khó mua. Thỉnh thoảng mới được phân phối vài chiếc cho công đoàn cơ quan phân phối cho cán bộ, phải bình bầu, ai trúng mới mua được.

          Lối uống chè đặc ngày nay rất phổ biến cho mọi lớp người ở Hà Nội cũng như ở nông thôn. Bất kỳ đâu, hễ khách đến chơi nhà, tới làm việc ở cơ quan là người chủ hoặc tự tay pha trà hoặc sai người pha trà tiếp khách. Đi đường, khát nước bạn có thể tạt vào một quán cóc liêu xiêu bên vỉa hè ngồi trên chiếc đòn lè tè gọi một chén trà nóng hổi hút điếu thuốc với một giá rất bình dân. Chè khô được mua về từ Thái Nguyên, Hòa Bình, Lạng Sơn, Mộc Châu, Hà Giang, Tuyên Quang hay nhiều vùng khác. Người Hà Nội nay quen gọi loại chè này là chè Thái. Chè Thái đã trở thành một trong những thứ nước uống rất phổ biến ở Hà Nội ngày nay.

          Trước đây, hồi cuối những năm 50, đầu những năm 60, đa số người Hà Nội còn chưa quen với lối uống loại chè này. Sau đó, có những nhóm anh chị em cán bộ, bộ đội từ miền Nam tập kết ra Bắc, nhiều anh em được điều về xây dựng những nông trường quốc doanh. Một trong những nông trường quốc doanh gần Hà Nội thời đó là nông trường trồng chè ở Lương Sơn (Hòa Bình). Trong số các cán bộ tập kết, nhiều người vốn có thói quen uống trà rất đặc. Sau này, số anh em này tỏa về làm việc trong các cơ quan và sống cùng với bà con nhân dân Hà Nội. Có lẽ do đó mà lối uống trà đặc này được xâm nhập nhanh chóng vào đời sống ẩm thực của người Hà Nội chăng.

          Giáo sư Dân tộc học Diệp Đình Hoa có lần kể với tôi rằng trong một buổi tiếp các đại biểu cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc ở Hà Nội hồi mới giải phóng miền Bắc, Bác Hồ có mời các đại biểu uống trà theo lối trà đậm đặc của nhân dân vùng Bình Định và Bác nói đó là kiểu uống của miền Nam. Có lẽ, cử chỉ ấy cũng đã góp phần phổ biến một tập quán uống chè mới trong dân chúng Hà Nội và nông thôn sau này.

          Tôi lại được anh Tư Nghiệp, Giám đốc Bảo tàng Đồng Nai và Nhạc sỹ Nguyễn Văn Nam, cũng là cán bộ miền Nam ra Bắc tập kết kể lại thuở mới ra học ở Hà Nội, cứ tết đến nhớ nhà là cánh Nam Bộ, đặc biệt là dân gốc miền Tây Nam Bộ lại tụ tập nhau uống trà đặc mà họ gọi là trà quạo (không hiểu sao quạo lại có nghĩa là đặc). Anh em rủ nhau UTQ đi! có nghĩa như một khẩu lệnh rủ nhau đi uống trà quạo. Cũng chẳng hiểu vì sao lối uống trà đặc này lại phổ biến ở miền Tây Nam Bộ trong khi vùng này cũng như nhiều vùng phía Nam hầu như trước đây chưa bao giờ trồng trà cả.

          Tôi có dịp được tìm hiểu những nông trường, trang trại trồng chè ở Hà Giang, Thái Nguyên và Bảo Lộc Lâm Đồng, được biết chè sản xuất ra được chế biến theo nhiều lối khác nhau. Năm ngoái, có dịp tạt vào quán trà lớn kiêm bảo tàng chè tư nhân của ông chủ Tiến Đạt dân Bắc di cư vào Nam mở mang công nghệ chè ở vùng Bảo Lộc, tôi được nhân viên tiếp thị cửa hàng cho biết hiện nay dân một số vùng ở đồng bằng Nam Bộ ưa uống trà đá pha loãng, không chát xít và ưa loại chè có ướp sen hoặc hoa nhài. Dân miền Trung thì uống chè đặc và chát nhưng mỗi khu vực ở miền Trung lại uống theo một lối khác nhau.

          Như vậy, rất có thể kiểu uống trà đặc của dân Hà Nội khởi đầu từ những năm cuối của thập kỷ 50 có ảnh hưởng của lối uống trà của dân miền Trung đất Việt hay miền Tây Nam Bộ.

          Có một điều lý thú khác là trong thời kỳ bao cấp, sau khi tem phiếu xuất hiện, chè Tàu và thuốc lá đã là những mặt hàng được phân phối theo tem phiếu. Thời ấy, thứ gì mua được bằng tem phiếu thì rất có giá vì nhà nước bán với giá bao cấp rẻ như cho không so với giá mua bên ngoài. Vì thế, nhiều người Hà Nội tuy không biết uống trà, hút thuốc nhưng thấy rẻ cứ mua cho hết tiêu chuẩn. Mua rồi vụng trộm đem đi bán lại hoặc uống thử, hút thử xem sao. Chiến tranh, sơ tán, nhiều thời gian sống xa gia đình, nhàn cư chẳng biết làm gì nhiều người tụm lại bên bàn trà. Ở nhiều cơ quan công sở nhà nước, có những người suốt ngày ngồi túm tụm bên bàn trà hoặc ngoài quán nước để bình luận về thời sự, bóng đá, hay tán gẫu những chuyện trong cơ quan, ngoài cơ quan, ông này bà nọ có khi mất cả buổi và cứ thế trà thuốc trở thành phổ biến. Nhiều cơ quan phải ra quy định hạn chế cán bộ không la cà lãng phí thời gian vào việc "Trà lá" (uống trà và hút thuốc lá). Lệ mời trà, thuốc đã trở nên quá quen thuộc đối với người Hà Nội. Liệu có nên giữ gìn và phát huy hay nên cải đổi tập tục này?

          Cùng với thời mở cửa về kinh tế, nhiều loại chè mới đã xuất hiện và bán ồ ạt trên thị trường Hà Nội. Bước vào siêu thị ta có thể thấy hàng chục loại chè nội ngoại với nhiều kiểu nhãn mác khác nhau. Thanh niên ngày nay ưa uống chè đen theo kiểu Âu. Vào quán giải khát, họ gọi cốc chè đen hiệu Lipton, bỏ đá, hoà một chút đường và có thêm lát chanh. Gần đây, hãng chè Dimalh của Ceylon bắt đầu tung ra thị trường Hà Nội một kiểu uống trà mới: trà chanh đá, trà sữa với loại cốc cao và dùng ống hút... đã nhanh chóng thu hút được một lượng khách đáng kể. Tối đến, cửa hàng đại lý cho hãng Dimalh chỗ góc đường Hai Bà Trưng, Ngô Quyền, người đến uống chủ yếu là thanh niên kéo đến rất đông. Người ta kê bàn ngồi tràn ra cả hè phố và xe máy để kín vỉa hè.

          Hình như kiểu uống trà xanh đặc đang có xu hướng giảm bớt, ít nhất là trong lớp thanh niên trẻ ở Hà Nội.

          Nhiều gia đình ở Hà Nội hôm nay lại quay trở về với lối uống chè tươi truyền thống hay uống nụ vối, chè nụ. Sáng sáng, các cụ già dậy sớm đi ra công viên tập thể dục, nhiều cụ không quên mua về một túi chè tươi để hãm uống cả ngày. Chè tươi là lối uống cổ truyền, lâu đời và chè tươi lại giữ được nhiều vitamin và các hợp chất quý khác.

          Rõ ràng là tập tục uống trà của người Hà Nội cũng đã có nhiều thay đổi theo không gian và thời gian, theo từng thế hệ. Nên chăng cần gìn giữ những lối uống cổ truyền như một di sản văn hóa Hà Nội nhưng theo tôi, cũng không nên chối bỏ các lối uống mới.

          Dẫu uống theo kiểu nào thì trà cũng luôn là một thứ đồ uống lành mạnh, có lợi cho sức khoẻ. Chẳng những thế, người Hà Nội ta, dân ta uống trà ta cũng chính là góp phần giúp cho bà con trồng chè ở trung du và miền núi có được một cuộc sống sung túc hơn, tốt đẹp hơn.

 

 

NƯỚC CHÈ

Chè tươi trước bán đầy trong các chợ Hà Nội. Có thể dễ dàng mua hàng rổ chè tươi trong chợ Bắc Qua, chợ Mơ hay chợ Đức Viên sau chợ Hôm. Hàng ngày, người ta chở về đây từng bao tải chè tươi. Từ những lá chè này, mỗi người mua về và hãm theo lối uống riêng của mình. Chè tươi có lẽ là lối uống cổ xưa nhất, đậm sắc dân tộc nhất.

Chè hạt

Cùng với nụ vối, người Hà Nội xưa còn uống một thứ nước khác đó là chè hạt. Chè hạt là một thứ nụ hoa của cây chè phơi khô được bán ngoài chợ. Mỗi hạt nụ chỉ nhỉnh hơn đầu đũa. Chè hạt cũng được hãm bằng nước sôi trong ấm tích như hãm nước nụ vối. Thông thường, hạt chè được bỏ vào trong một túi vải buộc túm miệng lại rồi thả trong ấm tích. Đôi khi, để cho chè chóng tan, người ta nghiền dập chè trước khi bỏ vào túi hãm hoặc dùng chiếc quả đựng chè làm bằng nhôm trông như một quả trứng gà nhỏ có thể mở ra thành hai nửa để cho chè vào và đổ bã ra. Quả có nhiều lỗ nhỏ đục xung quanh để chè thôi ra ngoài.

          Vị chè hạt thanh, hơi chát. Nước chè hạt màu nâu sáng hơi hồng hồng. Xưa kia, người Hà Nội thường mời khách uống chè hạt nóng mỗi khi có khách tới thăm nhà. Nghe nói thứ chè hạt này có thời được xuất khẩu ra nhiều nước và người tiêu dùng rất ưa chuộng. Chẳng hiểu vì sao mà thứ nước này nay cũng hiếm gặp trong các gia đình Hà Nội.

          Chè tươi

          Các nhà thực vật học đã xác minh rằng Việt Nam nằm trong vùng phát sinh ra cây chè của thế giới. Bằng chứng là trên vùng núi cao Hà Giang hiện vẫn còn nhiều rừng chè cổ thụ mọc tự nhiên. Có cây chè đã vài trăm năm tuổi, gốc của nó ba bốn người ôm không xuể. Cây chè cũng đã được trồng khắp nơi cùng với những giống cây khác trong vườn nhà. Thường thì ở vùng trung du, vùng ven đồng bằng quanh Hà Nội như vùng Thạch Thất (Hà Tây), Bắc Ninh (Hà Bắc), Kim Bảng (Hà Nam)… hầu như trong vườn nhà nào cũng trồng dăm cây chè để hái lá uống.

          Lối uống chè tươi có lẽ là lối uống cổ xưa nhất, đậm sắc dân tộc nhất ở Việt Nam. Mỗi vùng, miền lại có kiểu uống chè tươi riêng của mình. Tôi chưa có dịp khảo sát kỹ các kiểu uống chè tươi của mỗi vùng nhưng cũng được tham khảo một vài kiểu uống chè tươi khác nhau.

          Vùng núi Bá Thước, Thanh Hóa, đồng bào Mường uống chè tươi theo kiểu chọn những lá chè già, có gai, lá giòn xanh bóng bỏ vào cối giã nát rồi hãm với nước sôi uống nóng.

          Một vài nơi ở Hà Tĩnh thì người ta hái cả cành chè gồm có ngọn chè và cả thân chè rồi bỏ vào nấu trong ấm đất. Sáng dậy đi làm đồng, nhiều thợ cầy chỉ làm bát nước chè tươi đặc nóng, ăn điếu thuốc lào với dạ dày lép kẹp hoặc chỉ một củ khoai lang là no đến tận trưa.

          Người dân Huế thì lại chặt nhỏ cả cành lẫn thân chè phơi cho khô rồi đun nước uống dần. Từ nước cốt đầu tiên, người ta cứ pha thêm nước lã cho loãng dần và uống tiếp.

          Người Hà Nội cũng uống chè tươi. Không rõ lối uống chè tươi ở Hà Nội có xuất xứ từ đâu nhưng nước chè tươi là thứ nước uống của riêng một số gia đình và cũng là thứ uống bình dân ở bến tàu, bến xe và bên vỉa hè. Tùy theo nguồn gốc của mỗi gia đình mà mỗi người hãm chè theo lối của mình.

          Chè tươi trước đây bán đầy trong các chợ Hà Nội. Ta có thể dễ dàng mua hàng rổ chè tươi trong chợ Bắc Qua, chợ Mơ hay chợ Đức Viên sau chợ Hôm. Hàng ngày, người ta chở về đây từng bao tải chè tươi. Chè tươi bán trong các chợ này là những lá chè rời chứ không bán cả cành như trong các chợ ở Hà Tĩnh. Từ những lá chè này, mỗi người mua về và hãm theo lối uống riêng của mình. Vì thế, cũng khó có thể nói thế nào là lối hãm đặc trưng của người Hà Nội. Nhưng nhìn chung, lối hãm chè tươi của người Hà Nội thì khác với người Mường ở vùng cao Thanh Hóa, người nông dân ở Hà Tĩnh hay dân thường ở Huế như vừa kể.

          Bà nội tôi cũng hay uống chè tươi. Mỗi khi về thăm bà, tôi lại được bà rót cho bát nước chè xanh đặc sánh nóng hổi. Sau khi bà tôi qua đời, hầu như trong nhà tôi không còn ai uống nước chè tươi nữa.

          Khi đã già yếu, bà tôi không muốn ngồi không nhàn rỗi. Các cháu thì lên phố ở với bố mẹ cả nên ngồi một mình cũng buồn. Cụ nghĩ ra một việc làm cho vui mà lại có thêm đồng ra đồng vào. Thế là ông nội tôi thuê đóng cho bà tôi một chiếc chõng nửa tre nửa gỗ đề bày bán một vài quả chuối, quả ổi có sẵn trong vườn hoặc do những người buôn hàng ra bán ngoài chợ Mơ bỏ mối. Mùa nào quả ấy. Khi thì mấy buồng chuối tiêu chín, khi thì rổ thị thơm lừng cùng mẹt sấu chín vàng…Trên chõng còn bày dăm lọ ô mai sấu, ô mai khế hay mấy quả trám khô, lọ kẹo bột, kẹo vừng, kẹo dồi chó hay những chiếc kẹo hình con vịt xinh xinh có vạch đỏ trên thân. Những thứ quà vặt này là để dỗ trẻ con đến mua cho vui nhưng đôi khi có khách hàng thích uống chè tươi với kẹo bột, kẹo vừng cũng mua.

          Không chỉ thế, bà tôi còn hãm một chum nước chè tươi để bán cho các bác kéo xe ba gác mỗi khi kéo xe ra chợ Mơ trở về. Hồi ấy, ở Hà Nội, người ta vẫn còn dùng xe kéo có bánh gỗ để chuyên chở hàng. Mỗi xe chở hàng thường chỉ có một người kéo nắm đôi càng xe đằng trước, quàng chiếc dây thừng chéo vai và cứ thế chân đi đất trên đường nhựa nóng bỏng gò lưng đẩy chiếc xe bánh nan gỗ, vành đóng đai sắt không có ổ bi chạy đi chở hàng thuê cho mọi người. Xe nào nặng thì có thêm người đẩy phía sau. Dân kéo xe này được gọi là dân ba gác (có nguồn gốc từ chữ Tây là Bagages). Hồi ấy, dân xích lô ba gác thuộc diện những người cùng khổ mà sau này khi khai thành phần ở Hà Nội họ thường được xếp loại là "dân nghèo thành thị" được chiếu cố trong nhiều phương diện. Bà tôi đã mở quán nước chè tươi để phục vụ cho các bác xích lô ba gác này.

          Với họ, chè tươi là thứ nước giải khát tuyệt vời. Giữa trưa hè sau khi đạp một cuốc xe hay kéo một xe gạo, xe củi, mồ hôi nhễ nhại như tắm thấm ướt những chiếc áo vá mà được ngồi dưới gốc bàng trên chiếc ghế dài bên chõng của bà tôi, hưởng ngọn gió nồm nam, uống bát nước chè nóng và rít điếu thuốc lào thì còn gì khoan khoái bằng.

          Bà tôi ngồi trên chiếc ghế nhỏ không cao mà cũng chẳng thấp vì về già lưng bà hơi còng nên ông nội tôi đã đóng riêng chiếc ghế ấy để bà ngồi thoải mái. Chiếc ghế được lót đệm bằng mảnh bao tải và có bọc ni lông hẳn hoi. Bà luôn tay rót nước mời khách, tay phe phẩy chiếc quạt nan quạt cho chị phụ kéo xe mồ hôi nhễ nhại. Có lần nghỉ hè tôi được bố mẹ cho về ở với ông bà một tuần. Ngoài việc trèo cây hái ổi thoải mái, tôi còn được phụ giúp bà việc vặt. Một trong những việc ấy là giúp bà rửa những rổ lá chè tươi để hãm cho khách uống. Lá chè rửa sạch được bà vò nát sau cho vào chiếc chum sành nhỏ miệng rộng vừa phải. Để lá chè khỏi theo nước rơi ra ngoài, bà găm chúng bằng những nan tre cài chéo miệng chum. Thoạt đầu, bà đun nồi nước sôi thật già rồi dội nước vào chum có sẵn chè tươi chần ít phút lại đổ ra. Bà bảo đấy là "làm lông chè" để nước uống đỡ ngái. Sau khi chắt nước làm lông, bà đổ tiếp nồi nước sôi già vào để hãm. Bà bảo nước phải đun cho thật sôi già và kỵ nhất là nước oi khói. Nước mà bị oi khói thì coi như phải đổ cả mẻ chè đi.

          Nước cũng được lấy từ bể nước mưa nửa nổi nửa chìm trong sân dùng quanh năm không hết. Nhà có nước máy nhưng bà bảo hãm chè với nước máy uống nồng, mùi nước máy nó át cái vị của chè đi. Hồi ấy bếp toàn đun bằng củi, lá khô hay than chứ làm gì có bếp ga, bếp dầu. Đổ nước hãm chè xong, nắp chum được đậy kín lại và cả chiếc chum nhỏ được ủ quanh bằng bao tải rồi đặt vào một cái thùng gỗ vuông đóng vừa khít với chiếc chum lót tải giữ cho chum nước luôn nóng. Có khách, bà cẩn trọng lấy chiếc gáo dừa nhỏ rót nước nóng vào những chiếc bát sứ thô xếp ngay ngắn trên mặt chõng tre tự tay bưng mời khách.

          Khi thuê người đóng chiếc chõng bán nước, ông tôi còn dặn bác phó mộc đục cho ở phần gỗ rìa chõng phía ngoài một hàng chừng sáu bảy cái lỗ tròn rỗng đặt vừa khít những chiếc cốc thủy tinh có kiểu dáng như chiếc cốc vại uống bia bây giờ nhưng kích thước thì chỉ nhỉnh hơn nửa chiếc cốc vại. Đây là thứ cốc thủy tinh do các lò thủy tinh quanh Hà Nội tự nấu lại từ các mảnh chai, kính vỡ rồi đổ khuôn theo lối thủ công nên cốc có màu xanh nhạt và đầy bọt. Khác hẳn loại cốc pha lê trong vắt có viền vàng quanh miệng mà phần nhiều chỉ để trang trí trong các tủ kính sang trọng ở các gia đình khá giả. Năm thì mười họa mới được đem ra dùng khi có khách sang đến chơi. Đây là một loại cốc riêng dùng để uống chè tươi của dân Hà Nội.

          Bà kiếm đâu một số nắp đậy gọt bằng gỗ úp vừa khít lên miệng của những chiếc cốc xếp trong các lỗ quanh bàn. Những chiếc cốc này dùng để uống chè đường. Đường kính trước đây là một loại thực phẩm còn tương đối xa xỉ của dân Hà Nội. Chẳng thừa mứa như bây giờ. Thời bao cấp, mỗi cán bộ đi làm nhà nước chỉ được mua dăm lạng mỗi tháng để cất ăn dè. Nước chè tươi pha đường kính trắng uống nóng hay để nguội là một trong những thứ nước giải khát tuyệt trần đời. Thuở trước, mỗi khi về thăm bà, cụ thường chiêu đãi tôi một cốc nước chè pha đường, uống vào là mát ruột, mệt nhọc tiêu tan hết.

          Từ khi lối uống chè tàu được phổ cập hóa ở Hà Nội vào những thập kỷ 60, 70, chè tươi đã bị lùi dần khỏi các quán chè của người Hà Nội và thay vào đó là các quán cóc bán chè Thái đậm đặc mà người Hà Nội xưa thường gọi là chè Tàu. Ở những quán này người ta bán kèm thuốc lá và đôi khi cả lạc rang và rượu ngang nữa.

          Gần đây, nghe nói chè tươi có nhiều chất bổ lại ngừa được bệnh tật nên một số cụ già ở Hà Nội uống chè tươi trở lại. Sáng sáng đi tập thể dục quanh hồ Hoàn Kiếm, các cụ bà thường ghé qua phố Bảo Khánh tìm mua dăm lạng chè tươi của một chị bán chè kèm đem ở ngoại ô vào bán. Thoạt đầu bao tải chè được bán lưu động trên chiếc xe thồ cùng mấy chị bán hoa, bán thịt. Sau bị công an và đội trật tự đuổi riết quá, chị ta xoay xở được ngồi ngay cửa ra vào ngõ hẻm nhà số 4 cùng phố. Thế là an toàn. Người Hà Nội ai muốn mua lá chè tươi thì ra đấy mà mua nhưng nhớ phải dậy sớm. Hết giờ tập thể dục sáng thì hàng cũng vừa hết.


NƯỚC VỐI

 

Thời tôi còn bé, nước nụ vối là thứ nước rất phổ biến trong nhiều gia đình Hà Nội. Trong mỗi nhà đều có chiếc ấm giỏ. Ấm giỏ cũng có nhiều loại. Có loại ghép bằng tre, sơn quang dầu, dáng khum khum như chiếc thùng tô nô chứa rượu thu nhỏ.

           Có loại lại được đan bằng mây, có nắp mây đậy khít với thân giỏ. Loại này hình trụ miệng bầu dục và có quai xách cầu kỳ làm bằng dây đồng uốn. Bên trong các ấm giỏ đều được đệm lót bằng lớp mền bông như một chiếc chăn bông ôm khít lấy chiếc ấm tích bên trong. Nắp ấm giỏ là một miếng vải nhỏ nhồi bông, phía trên có gắn một chiếc vòng dây thép tròn đính vào nắp ấm bởi một miếng sắt tây tròn cỡ một đồng xu. Đặt khít trong lòng ấm giỏ là một chiếc ấm tích.

          Nước nụ vối

          Ấm tích để hãm nụ vối cũng có nhiều loại khác nhau. Có loại tương đối thô men sứ chỉ có hai màu xanh lam và trắng đục và thành ấm khá dày. Loại đồ sứ này thường được sản xuất hàng loạt cùng với các loại bát đĩa thường dụng ở vùng Bát Tràng hay các lò sứ gốm dân dụng khác. Ngoài ra, còn có một loại ấm khác sang trọng hơn, làm bằng loại sứ mỏng hơn, men trắng, có các hình trang trí, các hoạ tiết ông tiên chống gậy ngồi dưới gốc tùng già cạnh chú hươu sao màu vàng hiền lành vươn bộ sừng dài phân nhánh, mình hươu vàng lốm đốm những nốt sao trắng tròn xinh xinh. Cũng có ấm được trang trí hình hoa cúc vàng… Sở dĩ tôi phải nói đến chiếc ấm và chiếc ấm giỏ trước vì hai thứ này là vật dụng rất cần thiết cho việc hãm nước nụ vối và chè hạt. Người ta không bao giờ cho nụ vối vào chén rồi rót nước sôi như kiểu uống chè lipton thời hiện đại mà phải hãm nụ vối trong ấm tích và ủ trong ấm giỏ.

          Nụ vối là thứ hạt nụ của hoa cây vối đã được phơi khô. Thứ cây này được trồng nhiều trên bờ ao ở hầu khắp các thôn làng ở đồng bằng Bắc Bộ. Người ta bảo, trên bờ ao nếu trồng cây sung hay cây vối thì mặt ao luôn luôn rợp mát, đàn cá dưới ao sống trong nước mát sẽ không bị ngột, nổi trắng bụng trong mùa hè. Trưa hè, trời nắng chang chang, mặt ao thoáng che rợp bóng lá vối, lá sung bốc lên một làn hơi nước mát dịu hòa tan vào không khí khác nào một máy điều hòa tự nhiên làm cho không khí làng quê luôn thoáng mát, giải được cái oi nồng khủng khiếp. Không hiểu sao, gần đây có dịp về nông thôn công tác tôi thấy cây vối đã hiếm dần. Nhiều người bảo trồng cây vối nó chiếm diện tích mà đem bán cũng chẳng được bao nhiêu. Phần nữa, người uống nụ vối và lá vối đã giảm đi nên cũng ít người chú ý đến thứ cây này.

          Thời xưa, nụ vối bán đầy các chợ ở Hà Nội như kiểu bày bán chè Thái ngày nay. Bà tôi thường mua mỗi lần vài cân nụ vối để cất trữ uống dần. Tôi nghe nói nụ vối để càng lâu càng tốt. Có gia đình năm nào cũng mua nụ vối cất trữ và thứ nụ vối tiêu dùng hàng ngày lại là nụ vối được tích trữ từ những năm trước. Giáo sư Tô Ngọc Thanh có lần kể với tôi rằng bà nội ông thủa trước thường dùng nụ vối đã phơi khô cất trữ từ hàng chục năm trước trong những chiếc vò đã được đánh số ghi rõ ngày cất trữ. Mỗi năm cụ lại mua về một vò nụ vối mới để bổ sung cho kho nụ vối lưu niên của gia đình.

          Nụ vối mua về vốn đã khô nhưng vẫn được bà phơi thêm cho thật khô và cẩn thận nhặt sạch những cọng rơm hay một vài thứ tạp chất lẫn vào. Nụ vối khô được bà trữ trong một vò sành nhỏ nút lá chuối tiêu khô. Bà bảo trữ mọi thứ trong vò sành nút lá chuối tiêu khô vừa không bị mốc vừa tránh được sâu bọ. Mỗi khi hãm nước vối, bà cẩn thận lấy một chiếc thìa nhỏ, nghiêng chiếc vò sành múc đầy ba thìa đổ vào trong chiếc ấm đã được tráng nước sôi, sau đó, rót nhanh dòng nước đang sôi sùng sục hơi nước phun phì phì từ cái vòi ấm nhòn nhọn cong cong của chiếc siêu đồng vào ấm tích. Nước rót vừa đến miệng tích, vừa đủ, không một giọt nước rớt ra ngoài. Bà đậy chiếc nắp ấm tích bằng sứ được buộc nối với thân ấm qua cái lỗ móc quai ấm bằng một sợi dây nhỏ để khi rót nước, nắp ấm không bị rơi vỡ. Bà đậy nắp ấm giỏ lại và ủ cho nụ vối hoà những tinh chất của nó vào trong nước làm cho nước có một màu nâu đen nhạt.

          Nước vối có thể uống nóng hoặc để nguội. Tôi chưa thấy ai uống nước vối để trong tủ lạnh hay uống nước vối với đá bao giờ. Dân nông thôn thường uống nước vối trong bát ăn cơm. Ở thành phố, nước vối thường được uống trong những chiếc cốc thủy tinh hay chén sứ. Hương nụ vối có vị thơm giản dị thanh khiết. Vị nước vối hơi chan chát, ngọt ngọt nhưng không chát xít như chè Thái Nguyên hay chè Phú Thọ. Tùy theo khẩu vị của mỗi nhà, có người còn cho thêm vào nước vối chút cam thảo cho nước có vị thanh ngọt. Uống nước nụ vối không bị mất ngủ mà lại tiêu cơm. Nụ vối là thứ nước uống thông thường, bình dân. Trẻ con, người lớn đều có thể uống được.

          Cậu tôi kể rằng ngày xưa trong làng Hoàng Mai có người thích dùng nước nụ vối ướp hương sen. Ngày cưới ông bác tôi, khi bà ngoại đi mời cụ hàn Lâm sang dự cưới, cụ nhận lời sang ăn cỗ nhưng với điều kiện là cỗ xong phải được tráng miệng bằng nước vối ướp sen. Ngày nay kiểu uống này hình như không còn ở Hà Nội nữa.

          Nước vối xưa được uống phổ biến trong mọi gia đình ở Hà Nội. Trong các hiệu ăn, quán phở trước đây người ta cũng để những ấm nước vối để thực khách tráng miệng sau khi ăn. Khoảng ba chục năm trước đây, trên tàu điện Hà Nội, ngoài ga Hàng Cỏ hay trong chợ Đồng Xuân thường có những trẻ em hay bà già một tay xách chiếc ấm lớn ngoài bọc mền bông hay bao tải để ủ ấm nước luôn nóng, một tay cầm chồng bát sứ luôn miệng rao: “Ai nước vối nóng đây! Ai nước vối nóng đây!”. Người uống là những khách lao động nghèo, dân buôn thúng bán mẹt ngoài chợ hay đồng bào nông thôn ra tỉnh ngồi chờ đợi tàu xe trên sân ga, bến chợ…

Chẳng hiểu vì sao thứ đồ uống phổ biến này của Hà Nội đã bị đẩy lùi từ mấy chục năm nay và nó đã được thay thế bằng nước chè đặc, một thứ đồ uống mà trước đây được coi là xa xỉ.

Nước lá vối

 Khi về già, ông tôi thuê người vượt một khoảnh đất bên bờ ao gần chùa Hưng Ký là phần đất của cụ (nay là phố Minh Khai, quận Hai Bà Trưng) rồi làm một mảnh vườn xinh xinh trồng đủ thứ nào là ổi bo, khế ngọt, bưởi đào… và cụ cũng không quên trồng thêm góc vườn một cây vối.

          Cứ đến chiều thứ năm, sau khi tan giờ học môn lao động ở nhà trường là tôi lại rủ lũ bạn đi tàu điện xuống thăm vườn cây của cụ. Biết ý thằng cháu đích tôn vốn ham vui với bè bạn, bao giờ bà tôi cũng chuẩn bị cho lũ “giặc con” trên phố xuống đủ thứ. Khi thì chùm dâu gia xoan chua chua ngọt ngọt, quả bưởi đào, rổ ổi chín thu hoạch suốt cả tuần trong vườn nhà và một thứ không thể thiếu là một ấm nước lá vối đun từ sáng để nguội trong chiếc ấm đất để sẵn trong bếp cạnh ba ông đầu rau nặn bằng đất cục mịch mà vững chãi.

          Hoa quả bà đã trữ sẵn nhưng tôi và lũ bạn chỉ thích nhất cái khoản trèo cây và tự tay hái những quả ổi còn ương ương trên cây rồi vắt vẻo trên cành ngồm ngoàm nhai mới khoái.

          Ông tôi bảo nếu trèo cây, lớp vỏ già trên thân ổi tróc đi thì ổi sẽ bị chua ăn mất ngon nên cụ lấy một cây nứa dài chẻ một đầu và đan thành một cái lồng nhỏ như cái rọ cá có hở một ô cửa vuông để khi có ổi chín thì cầm sào lừa quả ổi lọt vào trong lồng mà giật xuống, khỏi phải trèo. Biết vậy nhưng ông vẫn chiều lũ trẻ và cho chúng tôi leo trèo thỏa thích.

          Leo trèo một lúc, mồ hôi vã ra như tắm, chúng tôi vượt qua chiếc cầu khỉ bắc qua ao bằng mấy cây tre rồi chạy thẳng vào bếp lục chồng bát đã được bà tôi rửa sạch sẽ, khô ráo xếp nghiêng một cách ngăn nắp chiếc nọ gếch lên chiếc kia thành hai dãy trong tầng giữa của chiếc chạn tre dùng đã lâu lên nước cật đen bóng. Tôi là người được thay mặt chủ nhà rót nước mời khách. Thú thật kiểu rót nước này tôi phải học mãi mới rót được vì nó không đơn giản như rót chén nước lọc từ chai ra cốc.

          Nước lá vối được đun và trữ trong một chiếc ấm đặc biệt làm bằng đất nung. Ấm này chỉ để hãm nước lá vối chứ bà tôi không bao giờ dùng vào việc khác. Muốn sắc thuốc thì dùng ấm khác chỉ chuyên sắc thuốc chứ không thể lẫn lộn. Loại ấm này ngày nay ta vẫn thấy có người thồ xe đi bán ở các chợ ngoại thành hay đôi khi bán rong trên các phố để sắc thuốc Nam, thuốc Bắc. Muốn rót nước, tay phải nắm chặt lấy hai chiếc tai ấm là hai miếng đất con hình chữ nhật được dán vào thân ấm tròn trước khi đem nung. Đáy ấm tròn, vòi ngắn, đáy lại cũng tròn. Nhấc được chiếc ấm đầy nước đang sôi ùng ục trên bếp lửa rơm cháy bùng bùng và rót được ra từng bát là cả một nghệ thuật, không những đòi hỏi phải khỏe tay, khéo léo, mà còn phải có tính cẩn trọng và lòng dũng cảm nữa.

          Tôi không dám rót ấm khi nước đang sôi và đặt trên bếp lửa vì sợ bỏng. Vả lại, biết lũ tôi thích nước mát, bà đã để nguội từ trưa rồi. Tôi rót cho mỗi đứa một bát nước nâu nâu thoang thoảng một hương vị dịu dàng thô mộc hơi ngai ngái của mùi lá khô và mát rượi trong tay. Cả bọn khoái chí làm một hơi ừng ực rồi lại vội vàng giơ bát ra xin thêm bát nữa cho thỏa. Tôi khoái chí được giữ chân phân phối và được hưởng nốt phần bát nước đặc cuối ấm.

          Thuở ấy, tôi chỉ biết là uống nước nguội để trong ấm đất bao giờ cũng mát lạnh nhưng cũng chẳng hiểu vì sao nước trong ấm lại mát lạnh đến thế. Sau này học lên tôi mới hiểu hóa ra chiếc ấm đất làm bằng gốm nên thành ấm có những lỗ nhỏ ly ti có thể thấm một phần nước ra ngoài. Khi để ấm ở chỗ thoáng, nước bám ngoài ấm bốc hơi làm cho nước bên trong mát lạnh.

          Khác với lá chè xanh, hái nắm lá vối tươi từ trên cây xuống đâu có hãm uống được ngay. Lá vối già bẻ trên cây xuống người ta phải phơi cho héo trên sân gạch. Phơi cho đến lúc lá trở nên giòn rồi mới đặt những cành lá khô vào chiếc thúng, dìm thúng lá xuống ao chừng nửa ngày sau mới vớt thúng lên và úp chiếc thúng cùng lá vối để đầu hè trong ba hôm rồi mới tãi ra phơi cho thật khô.

Khi uống, lấy một nắm lá rửa sạch bỏ vào ấm đất, đậy vung thật kín và đun thật sôi. Uống cạn có thể cho thêm nước vào đun tiếp.

Hồi ấy, ra chợ Mơ có thể mua được từng bó lá vối khô về uống dần. Bây giờ, tôi đã nhiều lần ra chợ tìm mà chẳng thấy ai bán lá vối nữa. Người Hà Nội và dân ngoại thành đã quên hẳn thứ nước uống giản dị này chăng?

VŨ THẾ LONG

 

 

 

TRÀ ĐẠO NHẬT BẢN

Xung quanh sự xuất hiện của trà bao phủ nhiều huyền thoại. Có vẻ hợp lý và đáng tin hơn cả là sự phát hiện tình cờ thứ nước uống huyền diệu này dưới thời Thần Nông, vị quân vương trị vì miền nam Trung Hoa từ 2737 đến 2697 trước công nguyên. Thời đó, người Hoa đã có thói quen đun sôi nước trước khi uống. Một lần Thần Nông ra lệnh đặt bếp đun nước cho ông dưới một gốc cây. Gió thổi, khiến lá từ trên cây rơi vào nồi nước. Thần Nông vô cùng ngạc nhiên, khi thấy nước có mùi vị rất dễ chịu. Từ đó ông thường xuyên uống nước pha chế với thứ lá này và không những thế còn ra lệnh cho toàn dân sử dụng.

Lịch sử Trung Hoa cho thấy thời Tam Quốc (220-280) trà đã trở thành một yếu tố không thể thiếu trong đời sống của người dân. Đến thời Tấn (265-420) xuất hiện những quán trà và người ta thưởng ngoạn trà tập thể. Người Hoa cổ đại coi trà là thứ uống chữa bệnh, giảm mệt mỏi, tăng cường sinh lực và thị lực, chống phong thấp. Nhờ công dụng tuyệt vời như vậy mà trà phát triển rộng sang các nước lân bang, mà Nhật Bản và Mông Cổ là những nước đầu tiên chịu sự ảnh hưởng này.

Từ thế kỷ thứ VI, Trung Quốc có ảnh hưởng rất lớn đến quần đảo Nhật Bản, đặc biệt là Phật giáo, văn hóa và triết học Khổng Tử. Quan hệ giữa hai nước đạt đến đỉnh cao trong thời đại nhà Đường (618 – 907). Thời này hạt cây chè được chuyển sang Nhật và nhà sư Saikho ươm trồng trên đất Nhật. Đến thời Nara (Bình an thời đại) ở Nhật Bản, nhiều ngôi chùa đã cho trồng chè, các nhà sư thu hoạch chè, tìm cách chế biến và đặt nền móng cho văn hóa sử dụng trà của Nhật Bản. Vào thế kỷ thứ VIII, các nhà sư đã sáng tạo ra nghi thức uống trà như một nghi lễ tôn giáo. Dần dần thói quen uống trà lan đến hoàng cung và nhà vua cho tổ chức những buổi lễ thưởng trà với sự tham gia của nhiều quan đại thần.

Nhưng phải đến cuối thời Kamakura (Liêm thương thời đại – 1185-1333), trà mới trở thành thứ nước uống bình dân, được dùng rộng rãi trong dân chúng. Đây cũng là thời mà quan hệ giữa Trung Hoa và Nhật Bản phát triển mạnh mẽ. Năm 1187, vị thiền sư nổi tiếng Nhật Bản Minh Am Vinh Tây (Myon Eisai – 1141-1215) đến Trung Hoa và lưu lại đó trong 4 năm. Khi trở về nước, ông cho thành lập giáo phái thiền tông và một trong những điểm quan trọng trong phép tắc của giáo phái chính là việc sử dụng trà.

Chính Minh Am Vinh Tây là người dạy dân Nhật cách chế biến và pha chế trà: lá trà được sao khô, tán thành bột mịn và hãm trong nước sôi. Nhưng những chỉ bảo của Vinh Am Minh Tây cũng vấp phải sự phản ứng dữ dội từ những người theo tôn giáo cũ của Nhật Bản là thần giáo. Tuy nhiên, công lao to lớn của ông trong việc phổ biến trà chính là việc ông đã biên soạn ra bản khái luận đầu tiên về trà có tên gọi Khiết trà dưỡng sinh kí, dày khoảng 20 trang. Minh Am Vinh Tây chỉ rõ rằng trà là phương thuốc chữa nhiều căn bệnh như tê liệt, rối loạn tiêu hóa, suy nhược cơ thể, biếng ăn. Các nhà sư Nhật Bản còn coi trà là một phương thức thiền và phương thuốc, khiến trà ngày một phổ biến rộng hơn. Cây chè được trồng ở hầu hết các địa phương của Nhật Bản. Từ thế kỷ XVI trà đã trở thành thức uống hàng ngày, đặc biệt là trong giới quý tộc samurai.

Giai đoạn của những cuộc nồi da xáo thịt liên miên từ thế kỷ XII đến XVI đã khiến giới samurai trở thành một thế lực mạnh trong xã hội Nhật Bản. Một trong những tục lệ của giới này là tổ chức những buổi uống trà với sự tham dự đông đảo của bạn bè, người thân, ở đó họ thường cùng chơi một trò chơi xuất hiện ở Trung Quốc dưới thời nhà Tống và du nhập vào Nhật Bản cuối thời mạc phủ Kamakura: Samurai và bạn bè của họ thi phân biệt các loại trà qua mùi vị, thi kiến thức về các vùng trồng chè, cách thức canh tác và chế biến... Người thắng cuộc nhận được những phần thưởng có giá trị.

Đến nửa đầu thế kỷ XIV, tại Nhật Bản đã hình thành một phong cách uống trà mới, được coi là hình thức sơ khai của Chanoyu – nghi lễ uống trà cổ truyền của người Nhật bao gồm 4 bước (hoài thạch, trung lập, ngự tòa nhập, trà loãng), thường kéo dài khoảng 3-4 giờ đồng hồ. Đây cũng là giai đoạn mà trà trở nên phổ biến đối với dân chúng. Trong các cộng đồng dân cư bình thường cũng bắt đầu thịnh hành trò chơi thi đố về trà nêu ở trên. Còn giới quý tộc thì xuất hiện hình thức vừa uống trà vừa tắm.

Từ nửa cuối thế kỷ XV thú uống trà trở nên ngày một thịnh hành trong tầng lớp trên của xã hội Nhật Bản. Những người giàu có tự xây cất cho mình trà thất – đó là những ngôi nhà nhỏ nằm trên phần đất nhà mình. Đến cuối thế kỷ này, người ta lại ưa thích uống trà trong những căn phòng nhỏ có diện tích khoảng 7 mét vuông, trang trí không cầu kỳ. Những phòng trà kiểu này đem lại cảm giác ấm cúng thích hợp với tinh thần thiền của Phật giáo.

Ý tưởng xây dựng trà thất thuộc về Murata Shuko (1422-1502) – người được dân Nhật coi là cha đẻ nghi thức uống trà vì ông chính là người đầu tiên đề ra những yếu tố chủ chốt của nghi thức này. Tuy nhiên, ông lại là người phản đối dữ dội hình thức vừa uống trà vừa tắm, vì cho rằng nó không phù hợp với quan điểm của thiền. Ông đã rất nỗ lực trong việc cổ súy để nghi thức uống trà giản tiện đến mức tối đa, đưa các dụng cụ của Nhật thay thế đồ Trung Quốc và phổ biến quan niệm người chủ nghi lễ uống trà phải phục vụ khách của mình.


Chanoyu

Sang thế kỷ XVI, nghi thức uống trà được phát triển hoàn chỉnh thành Chanoyu – nghi thức được mọi tầng lớp trong xã hội thừa nhận. Giới samurai coi đó là cách thức để thoát khỏi những ẩn ức tích tụ trong những trận huyết chiến diễn ra như cơm bữa trong cuộc sống của họ. Đó là những giây phút họ được thư dãn và tận hưởng những khoảnh khắc yên bình hiếm hoi.

Sau khi Shuko mất, sự nghiệp của ông được Takeno Jyoo (1502-1555) tiếp nối. Ông là một nhà thơ trác tuyệt, đồng thời cũng là một nhà thuyết giảng thiền đạo. Buông đao kiếm, ông đi tu và trở thành nghệ nhân hàng đầu về trà. Một trong những đam mê của ông là sưu tập các dụng cụ cổ dùng để pha trà và thưởng ngoạn trà. Ông quan niệm rằng, theo tinh thần thiền, không nhất thiết phải dùng những dụng cụ đắt tiền, mà nghi thức dùng trà phải phản ánh “sự rối loạn một cách tự nhiên” và “vẻ đẹp của sự bình dị”.Tư tưởng của Jyoo lan rộng tới tận kinh thành Kyoto và thu hút được một số lượng lớn người đi theo.

Người sáng lập ra nghi thức trà còn tồn tại cho đến ngày hôm nay là Senno Rikyu (1521-1591). Ông được tôn vinh là bậc thầy của trà đạo Nhật vì đã đưa ra những quy định chủ yếu về thẩm mỹ và đạo đức của trà đạo. Trà – thứ uống bắt nguồn từ Trung Hoa, thâm nhập vào Nhật Bản đã trở thành một nét đẹp văn hóa truyền thống riêng kết hợp những giá trị tinh thần của người Nhật với thiền của Phật giáo có sức sống mãnh liệt đến tận ngày hôm nay.

MỘT CÁI NHÌN KHÁC VỀ "TƯƠI MÁT"


Trước thập niên 1970, Nhật Bản cấm ngặt tất cả các loại sách, tạp chí, tranh ảnh, băng đĩa có nội dung khiêu dâm. Nhưng đến năm 1972 thì lệnh cấm này được hủy bỏ, thậm chí bỏ cả những hạn chế về độ tuổi đối với loại “văn hóa phẩm” này – điều mà nhiều nước Tây Âu vẫn còn duy trì.

Đương nhiên, khi lệnh cấm được dỡ bỏ, thì các nhà sản xuất lao ngay vào thị trường mầu mỡ này. Hiện nay mỗi năm Nhật Bản sản xuất khoảng 14 nghìn phim “người lớn”, trong khi Mỹ chỉ sản xuất khoảng 2.500 phim. Gần 50% học sinh nam và 20% học sinh nữ của các lớp trung học cuối cầm thường xuyên đọc “truyện tranh mát”.

Điều này đã ảnh hưởng thế nào đến thống kê các tội ác liên quan đến tình dục?

Trong giai đoạn 1972 – 1995: số lượng vụ hiếp dâm giảm một nửa. Đặc biệt giảm mạnh số vụ cưỡng dâm tập thể và cưỡng dâm do người vị thành niên thực hiện. Năm 1972, người vị thành niên thực hiện đến 33% số vụ hiếp dâm, nhưng đến năm 1995 chỉ còn 18%.

Số các vụ phạm tội khác liên quan đến tình dục cũng giảm đáng kể, tỉ lệ người vị thành niên trong số tội phạm thậm chí giảm đến 85%. Số vụ tấn công các bé gái dưới 13 tuổi giảm một nửa, từ 8,3% xuống còn 4%.

Số các vụ tội phạm không liên quan đến tình dục trong thời gian trên cũng giảm (giảm 40% số vụ giết người, giảm 60% số vụ tấn công). Tuy nhiên các chỉ số về độ tuổi tội và nạn nhân thì vẫn không thay đổi.

Thống kê trên rất giống với thực trạng ở Đan Mạch, Thụy Điển, Đức – những nước cho phép lưu hành các loại ấn phẩm cũng như các sản phẩm nghe – nhìn “tươi mát”.

Đa số các nhà nghiên cứu đều cho rằng những kẻ thực hiện các tội phạm liên quan đến tình dục đều là những người đàn ông được giáo dục theo quan điểm bảo thủ, sống trong môi trường bị đè nén về tình dục hoặc tuân thủ theo những nguyên tắc đạo đức khắc nghiệt.

Nếu người ta được giải tỏa những bức xúc về sinh lý, thì tỉ lệ tội phạm liên quan đến tình dục cũng giảm đi.

Nguồn: LiveJournal

 

Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh kể chuyên làm đại sứ ở China (Tự chữa bệnh)

 

 

 

Phần 5 (Phần cuối)

Khoảng cuối năm 1985 (tức cuối kỳ làm Đại sứ), bỗng nhiên tôi bị những cơn tim đập nhanh (140 nhịp một phút), phải đến bệnh viện Trung Quốc để khám. Nhưng đi đến giữa đường thì cơn tim đó lại dừng nên đến bệnh viện khám không thấy gì. Lần thứ hai cũng vậy, lần thứ ba thì cùng với cơn tim đập nhanh lại kèm theo sốt nhẹ, tôi phải vào nằm viện để điều trị. Bệnh viện cũng làm đủ mọi động tác xét nghiệm cần thiết như: đo điện tim, siêu âm tin phổi thận, rửa ruột, xét nghiệm máu, soi dạ dày v.v… Sau một loạt khám nghiệm cẩn thận như thế mà họ cũng chỉ kết luận được là “tim đập nhanh đậu tính kèm theo sốt”. Tôi đề nghị điều trị theo cách Đông - Tây y kết hợp. Họ chấp nhận nên hàng ngày cho thuốc viên đồng thời sắc thuốc bắc cho tôi. Họ bố trí tôi nằm riêng một phòng có điều hòa nhiệt độ và mắc vào người tôi những dụng cụ để theo dõi nhịp tim thường xuyên, có màn hình hiện lên trước mặt, nằm ở giường cũng có thể trông thấy. Hễ hơi động cựa mình hoặc dãy chân một tý là màn hình hiện lên con số 150 nhịp/ phút ngay. Về ăn uống bệnh viện cũng lo rất khá, 5 bữa một ngày. Sáng sớm thì bánh bao hoặc sủi cảo, giữa buổi uống sữa, trưa ăn cơm, 2-3 giờ chiều ăn bánh ngọt hoặc hoa quả, tối ăn cơm. Điều trị được ba, bốn ngày, bệnh tim vẫn không chuyển biến. Thế là lại phải nhịn ăn, lấy máu xét nghiệm, lại rửa ruột… vẫn không tìm ra nguyên nhân gì. Rồi đến một lúc tôi không ăn được, không ngủ được, thỉnh thoảng lại còn bị cảm (sau mới biết là nằm trong phòng có điều hoà nhiệt độ thường xuyên, tôi không quen nên mới bị cảm lạnh). Tình hình cứ thế kéo dài, tôi ngày càng gầy sút, chân tay trở nên uể oải không có lực. Đến nỗi việc tắm rửa cũng không tự mình làm được, phải nhờ anh em trong Sứ quán mình vào tắm giúp. Rồi đến lúc giơ tay lên đánh răng rửa mặt cũng thấy mỏi rã ra. Sau một tháng tôi sút mất 10 cân, chân tay lẩy bẩy, đi lại phải vịn, phải lần. Tôi nghĩ nếu cứ nằm đây thì sẽ suy sụp đến chết mất. (Trong khi đó ở Sứ quán, anh em đã họp bàn với nhau, nói đến việc nếu Đại sứ chết thì chôn ở Bắc Kinh hay đưa thi hài về nước). Tôi nói với bệnh viện là mình đỡ rồi, xin về Sứ quán chữa ngoại trú, tôi không dùng máy điều hoà nhiệt độ, chỉ dùng quạt ở mức nhẹ nhất, cho quay đi quay lại phe phẩy thôi. (Ngoài trời lúc đó đang là nóng nhất trong năm). Về ăn uống thì chú Quế (nấu cơm cho tôi đã lâu năm rất tận tình) thường đi mua thịt bò về làm cho chín tái đi rồi ép lấy nước cho tôi, hoặc chú nấu cháo gà cho, nhưng tôi vẫn chỉ ăn được một chút. Tôi thấy ngủ được hơn trong bệnh viện và uống được chút nước thịt cũng hấp thu tốt hơn. Hàng ngày tôi vào bệnh viện cho họ bắt mạch và cắt thuốc bắc về uống, vì hàng ngày vẫn còn sốt âm ỷ. Tôi xem đơn thuốc họ kê cho thì thấy trong đó có nhiều vị tác dụng tư âm thanh nhiệt, lần nào cũng thế. Từ trước tôi đã có mua và đọc nhiều sách thuốc của Trung Quốc, đã có chút hiểu về Đông y; vì vậy khi đọc đơn thuốc đó, tôi suy nghĩ: đã tư âm thanh nhiệt mãi mà không khỏi sốt, ắt trong người phải có chỗ viêm nhiễm nào đấy (mà có thể nó chưa đủ lớn để thày thuốc phát hiện được). Tôi nhờ anh Bảng phiên dịch tiếng Trung Quốc ra hiệu thuốc mua cho vị kháng sinh thực vật là bồ công anh, kim ngân hoa vàliên kiều về bỏ vào thang thuốc của bệnh viện sắc uống trong ba ngày. Uống xong ba ngày thì hết sốt, sau đó tôi thấy trong người ngày càng khá hơn lên, dần dần ăn được ít cơm. Tuy vậy người vẫn còn yếu. Tôi định rủ bà xã về nước (tôi nghĩ nếu có chết thì chết trong nước cho khỏi phức tạp, phiền hà đến cơ quan, tổ chức). Vừa lúc đó, chị Lan bác sĩ của Sứ quán lại phát hiện bà xã tôi bị vàng da, vàng mắt; đưa đi bệnh viện khám thì ra viêm gan cấp tính, phải nằm viện chuyên khoa cách ly điều trị một tháng. Khi bà xã tôi khỏi bệnh ra viện, chúng tôi cùng rời Bắc Kinh về nước. Khi ra sân bay, bác sĩ của Sứ quán vẫn phải đưa tôi đến tận chân thang máy bay. Về đến Hà Nội, bác sĩ của Bộ Ngoại giao ta phải ra tận máy bay đón tôi. Khi tôi có việc lên Bộ Ngoại giao, chỉ có thể đứng dưới nhắn người của vụ Trung Quốc xuống mà gặp. Tôi không còn đủ sức trèo lên tầng ba để làm việc. May mắn là tôi có đem về được hai hộp bột tam thất Vân Nam (là thứ tốt nhất hồi đó, ở Việt Nam hầu như không thể kiếm được). Tôi uống bột tam thất, đồng thời động viên bà vợ cùng ăn gạo lứt để chữa bệnh. Kiên trì ngày một bữa gạo lứt trong hơn hai tháng thì sức khoẻ tôi đã hồi phục như bình thường.

Người ta nói “trong cái rủi có cái may”, bị một trận ốm thập tử nhất sinh ở Bắc Kinh như trên đã nói, rõ ràng là chẳng ai muốn, nhưng qua trận ốm đó tôi lại học được nhiều việc, tôi trở nên chú ý suy ngẫm, rút kinh nghiệm về bảo vệ sức khỏe và thêm hứng thú đi sâu nghiên cứu Đông y hơn. Sau này khi có điều kiện, tôi đã mầy mò nghiên cứu học hỏi cho có bài bản và trở thành thày lang của gia đình, chữa được nhiều bệnh cho vợ con, cháu chắt, bạn bè….

Cái thời những năm 80 thế kỷ trước, ở trong nước mọi thứ hàng hóa đều khan hiếm. Mỗi lần về nước là cán bộ nhân viên Sứ quán ta đều tranh thủ mua các thứ hàng tiêu dùng đem về, kỳ cho hết tiêu chuẩn trọng lượng hàng được phép theo quy định của hàng không mới thôi. Chú Quế đầu bếp của tôi cũng vậy, mua cả táo tàu (thứ táo nhỏ của Tàu sấy khô, quả nhăn nheo màu đỏ nâu hoặc đen) đem về ngâm vào phích nước nóng để uống. Một hôm chú khoe với tôi: “Cái ruột phích của em ngâm táo tự nhiên lại sáng choang như mới”. Nghe vậy, tôi bèn nghĩ: có lẽ trong táo tàu có chất a-xít gì đánh tan được cặn can-xi bám trong ruột phích nước. Rồi một lần về nước tôi cũng mua theo mấy cân táo tàu, về qua Thái Lan, ngủ ở nhà khách Sứ quán ta ở Băng-cốc cùng với một đồng chí cán bộ của ta cũng đi qua, tôi đem táo tàu mời đồng chí đó ăn. Đồng chí nói: “Trước đây tôi bị sỏi thận, có người bạn cũng cho tôi một cân táo tàu. Sau khi ăn ít hôm thì thấy đau bụng dưới nhiều, hai ba hôm mới khỏi”. Tôi hỏi: “Từ đó đến nay anh còn thấy đau nữa không?”. Đồng chí nói không. Thế là liên hệ việc này với việc cái ruột phích của chú Quế, tôi phát hiện ra rằng trong táo tàu có chất làm tan sỏi can-xi, khi ăn táo tàu nó bào mòn viên sỏi làm sỏi nhỏ đi đến mức có thể bài tiết ra ngoài qua đường niệu, trên đường đi ra, nó chà xát vào niệu quản làm đau. Đến lúc đồng chí Bảng được điều sang làm phiên dịch cho tôi thay một đồng chí khác đã hết nhiệm kỳ. Gặp tôi, Bảng nói: “Em bị sỏi thận đang điều trị thì Bộ bắt sang đây”. Tôi bảo Bảng ra ngoài hiệu thuốc mua lấy một cân rưỡi táo tàu, hai buổi, buổi sáng chiều trước bữa cơm đều ăn lấy một vốc. Mấy hôm sau Bảng nói với tôi: “Em có cảm tưởng sỏi nó đi đến gần xương cụt rồi”. Vài hôm sau nữa thì sỏi ra ngoài. Từ đó trở đi Bảng không bị đau thận nữa. Thế là chắc chắn “phát hiện” được thứ thuốc vừa ngon vừa lành là táo tàu nên dùng đủ liều lượng thì có thể làm tan sỏi can-xi trong thận!

Tôi nghĩ, 13 năm ở Bắc Kinh, vừa phải đấu tranh căng thẳng với Bộ Ngoại giao Trung quốc, vừa phải chống đỡ bệnh tật, nếu mình không đọc sách và biết về thuốc, cứ phó thác thân mình cho các giáo sư bác sĩ ở bệnh viện Bắc kinh thì có lẽ đã chết từ lâu rồi. Tự mình cứu mình nên đã sống thêm được vài chục năm nữa. Vào năm 1955, sau khi quan hệ Trung Quốc - Việt Nam đã bình thường hoá trở lại, Hiệp hội Ngoại giao Trung Quốc đã mời tôi với đồng chí Ngô Minh Loan, đồng chí Nguyễn Minh Phương là ba Đại sứ cũ ở Trung Quốc sang thăm nước họ. Tôi lại làm Trưởng đoàn, Đại sứ Lý Thế Thuần lại hỏi tôi muốn đi thăm nơi nào? Tôi nói tôi đi thăm đã gần hết các tỉnh của Trung Quốc, chỉ còn Hàng Châu và Thâm Quyến là chưa được đi. Hiệp hội Ngoại giao đã đáp ứng một cách nhiệt tình mấy nguyện vọng của tôi, mời cả đồng chí Hứa Pháp Thiện (tên Việt Nam là Thanh) vốn là cố vấn của Cục Tổ chức chúng tôi trong kháng chiến chống Pháp đến dự buổi chiêu đãi của họ (trong bữa tiệc có cả Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc đến dự). Cuộc gặp rất vui vẻ. Phó Thủ tướng Trung Quốc cũng có buổi tiếp chúng tôi. Sau đó Hiệp hội cử một nữ Trưởng phòng là Trịnh Nại Linh tháp tùng chúng tôi đi thăm quan các nơi như Hàng Châu, Thâm Quyến. Đi đến đâu họ cũng bố trí cho chúng tôi ở khách sạn 5 sao, riêng tôi được bố trí ở phòng VIP bằng tiêu chuẩn Phó thủ tướng có phòng ngủ, phòng khách riêng. Ở địa phương nào cũng có Phó tỉnh trưởng đến tiếp đón. Tôi thấy chỉ mới cách 8 năm thôi mà Trung Quốc thay đổi ghê gớm. Thâm Quyến xưa chỉ là bãi đất hoang mà nay trở thành một thành phố hiện đại hoàn chỉnh. Trong thành phố có một công viên rất rộng lớn gọi là tiểu Trung Hoa, họ xây dựng tất cả các danh lam thắng cảnh (thu nhỏ) tiêu biểu của các tỉnh Trung Quốc (ví dụ trong đó có Cố Cung, Trường Thành, Tây Hồ, Thái Hồ…). Còn Quảng Châu, Bắc Kinh tựa hồ như đã lột xác, trở thành những thành phố tráng lệ sầm uất gấp hàng chục lần so với lúc tôi làm Đại sứ.

Khi tôi đã thôi nhiệm vụ Đại sứ về nước, thì ở Việt Nam, Trung Quốc đã lần lượt thay mấy đời Đại sứ: Lý Thế Thuần, Trương Đức Duy, Lý Gia Trung, Tề Kiến Quốc đến Hồ Càn Văn. Họ đều biết tôi từ khi họ còn là các cán bộ phiên dịch của Bộ Ngoại giao Trung Quốc, đã dịch cho quan chức ngoại giao Trung Quốc “đấu đá” với tôi. Vì biết tôi là Đại sứ kỳ cựu nên mỗi khi có dịp chiêu đãi nhân Quốc khánh Trung Quốc hay nhân dịp kỷ niệm thành lập quan hệ ngoại giao hai nước, họ đều nhớ mời tôi.

Năm 1987, tôi được chính thức cho phép rời Sứ quán ở Bắc kinh sau khi đã hoàn thành tốt nhiệm kỳ Đại sứ dài dặc nhất trong lịch sử các Đại sứ Việt Nam ở nước ngoài: mười ba năm. Nghỉ ngơi trong một thời gian thì Bộ Ngoại giao yêu cầu tôi viết Hồi ký 13 năm làm Đại sứ ở Trung Quốc. Tôi đã viết xong và nộp cho Bộ Ngoại giao. Đến năm 1990 thì thực sự nghỉ hưu.

Khi về nước được hai năm, tôi gặp một đồng chí quan lúc đó là cán bộ của Ban Tổ chức Trung ương. Đồng chí hỏi: “Anh được tặng Huân chương Hồ Chí Minh năm 1987, anh đã nhận được chưa?”. Tôi bảo tôi không biết gì! Ban Tổ chức Trung ương bèn hỏi bên Bộ Ngoại giao. Thì ra Vụ Tổ chức Bộ Ngoại giao đã nhận, đem cất đi rồi quên mất (!) Vì vậy cho nên mãi đến năm 1990 trước khi tôi nghỉ hưu, Bộ Ngoại giao mới mời tôi lên. Đồng chí Bộ trưởng trao huân chương cho tôi và tặng một số tiền kèm theo là 100.000 đồng trong cuộc họp mặt có đông đủ cán bộ từ Vụ trưởng, Vụ phó trong Bộ. Lúc đó tôi mới tức cảnh làm bốn câu thơ:

“Vừa rồi được tấm Huân chương

Xa xôi nó phải đi đường hai năm

Bộ Ngoại giao tặng thêm một trăm

Đủ tiền làm một bữa nem ăn mừng!”.

Như vậy, năm 1990 đã kết thúc một quãng đời quan trọng của tôi mà tôi gọi là “thanh niên ba sẵn sàng”. Tôi luôn sẵn sàng chấp hành mọi sự điều động của Đảng, Nhà nước, không tính toán thiệt hơn, không hề có đề nghị, yêu cầu gì, nhận được mệnh lệnh là lên đường đi làm nhiệm vụ thậm chí không đợi cả làm đủ giấy tờ thủ tục, chẳng ngại sự thiệt thòi về lương bổng, về chế độ đãi ngộ, về nhà cửa. Với việc nào, tôi cũng chỉ đinh ninh một điều là làm sao cho tốt nhất so với năng lực của mình. Trong thời gian từ khi kết thúc kháng chiến chống Pháp đến năm 1990, tôi được phân công làm nhiều công tác như đã thuật ở trên, nhưng có thể nói có hai việc lớn và làm thời gian dài nhất là làm Cố vấn cho Bạn Lào và làm Đại sứ ở Trung Quốc (tổng cộng hơn 20 năm) và cũng là hai việc tôi có nhiều kỷ niệm đáng nhớ hơn cả và về cơ bản có thể nói là “đã đạt yêu cầu”. Vì vậy, tôi có thể mượn lời của con gái Nguyên Bình trong câu đối nôm na nó viết tặng tôi nhân buổi mừng sinh nhật 80 tuổi để làm câu kết cho câu chuyện đi sứ nước người của tôi:

Làm Cố vấn miền Tây, ghi lời Bác, không làm “lão Toàn quyền”*, luôn nhớ chữ “chủ quyền của bạn”.

Đi Đại sứ nước Tàu, theo ý Đảng, chẳng ngại “người Đại quốc”, giữ trọn điều “Quốc thể về ta”.


 

*Trước khi đi Lào nhận nhiệm vụ mới (làm Trưởng đoàn cố vấn giúp Lào - cuối 1964), Hồ Chủ tịch cho gọi ông Nguyễn Trọng Vĩnh tới ăn cơm và dặn dò một số điều. Người nói vui với Nguyễn Trọng Vĩnh: “Chú sang bên ấy, chú có ý kiến gì thì chú góp với Bạn để Bạn làm, chú không được làm thay và chú không được làm "Lão toàn quyền” đấy nhé!” – Chú thích của Bà Nguyễn Nguyên Bình, con gái Đại sứ Nguyễn Trọng Vĩnh.

Nguyễn Trọng Vĩnh

Xem thêm:  Phần 1, Phần 2, Phần 3 và Phần 4