Monday, August 2, 2010

Vài đóng góp quan trọng của người Việt trong khoa học thống kê

Nhiều người Việt không hề biết hay nghe đến hai nhà khoa học được nhắc đến trong bài này. Có lẽ nói không ngoa rằng phần lớn chúng ta đều "ngán" môn thống kê học, vì nó khá trừu tượng và ... khó hiểu. Chính vì thế mà chẳng bao nhiêu sinh viên Việt Nam theo học khoa học thống kê, và rất ít ai biết được những đóng góp quan trọng của người Việt trong bộ môn khoa học này. Tôi có cơ duyên tiếp cận những công trình của 2 nhà khoa học gốc Việt sau đây và muốn ghi lại vài hàng để các bạn biết được rằng người Việt cũng có đóng góp quan trọng trong khoa học thống kê.

Nói đến hai chữ "thống kê" có lẽ nhiều người nghĩ ngay đến những hoạt động mang tính "truyền thống" dưới hình thức như cân, đo, đong, đếm.  Ngày xưa ở Âu châu, giới vua chúa, tu sĩ và các gia đình hoàng tộc sử dụng thống kê như là một công cụ quản lí tài sản, đất đai, nhân sự và dân số.  Trong xã hội hiện đại, chính quyền cũng sử dụng thống kê như là một phương tiện quản lí kinh tế - xã hội.  Bất cứ chính quyền nào cũng có các cơ quan thống kê chuyên thu thập và xử lí các thông tin về dân số, giáo dục, tình hình phát triển kinh tế, v.v…  Nhà nước dựa vào những thông tin đó để vạch ra chính sách.  Không có thông tin thống kê, nhà nước như người mù và điếc.  Chính vì thế mà Lenin từng ví von rằng thống kê là tai, là mắt của nhà nước.

Thống kê và khoa học thống kê

Nhưng bộ môn thống kê mà tôi muốn bàn ở đây không phải là các hoạt động truyền thống như mô tả trên, mà làkhoa học thống kê (statistical science). Khoa học thống kê khác với thống kê học (statistics). Thống kê học là một bộ môn toán học, chủ yếu quan tâm đến các vấn đề lí thuyết toán thống kê (mathematical statistics). còn khoa học thống kê là một bộ môn khoa học thực nghiệm: phát triển giả thiết khoa học, tiến hành thí nghiệm, phân tích dữ liệu, và diễn dịch dữ liệu.  Thống kê, suy cho cùng là một cách suy nghĩ về vấn đề khoa học. Có người thường nghĩ rằng thống kê là một công cụ của khoa học, nhưng tôi nghĩ rằng quan điểm đó không chính xác, vì trong thực tế, nhà thống kê học không chỉ là người đơn thuần làm phân tích dữ liệu, mà là một nhà khoa học, một nhà suy nghĩ ("thinker") về nghiên cứu khoa học.

Khoa học thống kê đóng một vai trò cực kì quan trọng, một vai trò không thể thiếu được trong bất cứ công trình nghiên cứu khoa học, nhất là khoa học thực nghiệm như y khoa, sinh học, nông nghiệp, hóa học, và ngay cả xã hội học.  Thí nghiệm dựa vào các phương pháp thống kê học có thể cung cấp cho khoa học những câu trả lời khách quan nhất cho những vấn đề khó khăn nhất.  Làm sao chúng ta biết phẫu thuật A có hiệu quả tốt hơn phẫu thuật B?  Làm sao chúng ta biết aspirin có thể đem lại lợi ích cho bệnh nhân?  Trong số 25 ngàn gen trong cơ thể con người, gen nào có khả năng gây ra ung thư, tiểu đường, loãng xương?  Làm sao chúng ta biết một giống lúa mới có sản lượng cao hơn giống lúa cũ?  Làm sao chúng ta biết được quá trình học vấn ở cấp phổ thông có ảnh hưởng đến kết quả học tập ở bậc đại học?  Tại sao trẻ học sinh tiểu học ở nông thôn hay bỏ học?  Làm sao chúng ta biết những đặc tính nào của cà phê được người tiêu thụ ưa chuộng, và có sự khác biệt về sở thích giữa nam và nữ hay không?  Một số du khách vào Việt Nam có xu hướng "một đi không trở lại", vậy yếu tố nào đã làm cho họ có xu hướng đó?  Làm sao chúng ta biết người dân ủng hộ chính sách A mà không là chính sách B?  Vân vân.  Đó là những vấn đề mà khoa học thống kê có thể cung cấp câu trả lời khách quan và đáng tin cậy nhất.

Chẳng hạn như vấn đề bệnh teo cơ delta (có khi gọi là bệnh "chim sệ cánh") mà ngành y tế nước ta đang đương đầu hiện nay.  Cho đến nay dù đã xảy ra hơn 2000 trường hợp trên toàn quốc, mà các chuyên gia vẫn chưa biết chính xác nguyên nhân hay các yếu tố nguy cơ nào gây nên bệnh!  Chính vì không có dữ liệu trong tay, cho nên có khá nhiều chuyên gia hàng đầu trong ngành đề suất nhiều yếu tố nguy cơ dựa vào những phát biểu cá nhân và chung chung như "theo ý kiến của tôi", hay "qua kinh nghiệm 50 năm hành nghề của tôi", hay "tôi nghĩ rằng".  Nhưng trong khoa học, không có cái gọi là "theo ý kiến của tôi" hay "theo kinh nghiệm của tôi", vì khoa học dựa vào dữ liệu thực tế được quan sát và đo lường chính xác (hay ít ra là khá chính xác) để phát hiện một yếu tố nguy cơ cho bệnh tật, hay nói chung là để phát biểu một định đề.  Và, để có những dữ liệu đó, nhà khoa học phải tiến hành thí nghiệm.

Một thí nghiệm khoa học được bắt đầu bằng một ý tưởng, một giả thiết, và để thử nghiệm giả thiết đó, một qui trình khảo sát phải được tiến hành theo các bước chung như: thiết kế, thu thập dữ liệu, phân tích dữ liệu, và diễn dịch ý nghĩa của dữ liệu.  Mỗi một bước trong qui trình đó đều có sự cống hiến quan trọng của khoa học thống kê.  Những câu hỏi then chốt đặt ra là: phải thiết kế một công trình thí nghiệm như thế nào, cần bao nhiêu bệnh nhân, có cần nhóm đối chứng (tức không bị bệnh) hay không, phương pháp thu thập dữ liệu như thế nào, phải đo lường cái gì, phân tích dữ liệu ra sao, v.v… Đó là "địa hạt" hoạt động của khoa học thống kê.

Những vấn đề trên chẳng những mang tính khoa học, mà còn mang tính đạo đức khoa học.  Nếu không giải quyết thỏa đáng, có thể làm cho công trình nghiên cứu trở nên vô dụng và như thế nhà nghiên cứu có tội với bệnh nhân và tình nguyện viên. Một trong những khía cạnh cực kì quan trọng trong nghiên cứu là xác định số lượng đối tượng hay bệnh nhân cần thiết để khảo sát.  Một công trình nghiên cứu nếu không có đủ bệnh nhân hay tình nguyện viên, thì dữ liệu thu thập được sẽ không có giá trị khoa học cao.  Ngược lại, nếu công trình nghiên cứu tuyển dụng quá nhiều bệnh nhân hơn số cần thiết, chẳng những gây ra phiền hà (có khi nguy hiểm) cho bệnh nhân một cách không cần thiết.  Trong cả hai trường hợp, nhà nghiên cứu vi phạm đạo đức khoa học, và trong trường hợp nghiên cứu y khoa, đó là một vi phạm y đức.  Do đó, hoạt động của khoa học thống kê không chỉ giới hạn trong các vấn đề khoa học, mà còn bảo vệ một khía cạnh của đạo đức khoa học.

Phân tích thống kê là một khâu quan trọng không thể thiếu được trong các công trình nghiên cứu khoa học, nhất là khoa học thực nghiệm.  Một công trình nghiên cứu khoa học, cho dù có tốn kém và quan trọng cỡ nào, nếu không được phân tích đúng phương pháp sẽ không bao giờ có cơ hội được xuất hiện trong các tập san khoa học.  Ngày nay, chỉ cần nhìn qua tất cả các tập san nghiên cứu khoa học trên thế giới, hầu như bất cứ bài báo y học nào cũng có phần "Statistical Analysis" (Phân tích thống kê), nơi mà tác giả phải mô tả cẩn thận phương pháp phân tích, tính toán như thế nào, và giải thích ngắn gọn tại sao sử dụng những phương pháp đó để hàm ý "bảo kê" hay tăng trọng lượng khoa học cho những phát biểu trong bài báo.  Các tạp san y học có uy tín càng cao yêu cầu về phân tích thống kê càng nặng.  Không có phần phân tích thống kê, bài báo không thể xem là một "bài báo khoa học".  Không có phân tích thống kê, công trình nghiên cứu chưa được xem là hoàn tất.

Trong khoa học thống kê, có hai trường phái "cạnh tranh" song song với nhau, đó là trường phái tần số (frequentist school) và trường phái Bayes (Bayesian school).  Phần lớn các phương pháp thống kê đang sử dụng ngày nay được phát triển từ trường phái tần số, nhưng hiện nay, trường phái Bayes đang trên đà "chinh phục" khoa học bằng một suy nghĩ "mới" về khoa học và suy luận khoa học.  Phương pháp thống kê thuộc trường phái tần số thường rất đơn giản hơn các phương pháp thuộc trường phái Bayes.  Có người từng ví von rằng những ai làm thống kê theo trường phái Bayes là những người thiên tài!

Để hiểu sự khác biệt cơ bản giữa hai trường phái này, có lẽ cần phải nói qua đôi điều về triết lí khoa học thống kê bằng một ví dụ về nghiên cứu y khoa.  Để biết hai thuật điều trị có hiệu quả giống nhau hay không, nhà nghiên cứu phải thu thập dữ liệu trong hai nhóm bệnh nhân (một nhóm được điều trị bằng phương pháp A, và một nhóm được điều trị bằng phương pháp B).  Trường phái tần số đặt câu hỏi rằng "nếu hai thuật điều trị có hiệu quả như nhau, xác suất mà dữ liệu quan sát là bao nhiêu", nhưng trường phái Bayes hỏi khác: "Với dữ liệu quan sát được, xác suất mà thuật điều trị A có hiệu quả cao hơn thuật điều trị B là bao nhiêu".  Tuy hai cách hỏi thoạt đầu mới đọc qua thì chẳng có gì khác nhau, nhưng suy nghĩ kĩ chúng ta sẽ thấy đó là sự khác biệt mang tính triết lí khoa học và ý nghĩa của nó rất quan trọng.   Đối với người bác sĩ (hay nhà khoa học nói chung), suy luận theo trường phái Bayes là rất tự nhiên, rất hợp với thực tế.  Trong y khoa lâm sàng, người bác sĩ phải sử dụng kết quả xét nghiệm để phán đoán bệnh nhân mắc hay không mắc ung thư (cũng giống như trong nghiên cứu khoa học, chúng ta phải sử dụng số liệu để suy suy luận về khả năng của một giả thiết).

Cống hiến của người Việt

Trong những người Việt ở nước ngoài làm làm khoa học, số nhà khoa học thống kê cũng không nhiều, nếu không muốn nói là "đếm đầu ngón tay".  Và họ cũng là những nhà khoa học "trầm lặng", bởi vì những công trình nghiên cứu của họ khó có thể trở thành một bản tin, một câu chuyện trên báo chí hay hệ thống truyền thông đại chúng.  Phát triển một phương pháp xử lí số liệu, tuy có thể có ảnh hưởng cơ bản đến tất cả các ngành khoa học hàng trăm năm, nhưng khó mà hấp dẫn so với một khám phá về gen liên quan đến bệnh tật.

Tuy số nhà khoa học thống kê gốc Việt trên thế giới không nhiều, nhưng họ có nhiều đóng góp quan trọng (có khi rất quan trọng) cho khoa học thống kê.  Trong số những người có những cống hiến quan trọng đó, phải kể đến giáo sư Phạm Gia Thụ tại Đại học Moncton ở Canada (mà Người viễn xứ có một bài viết về ông) và giáo sư Huỳnh Huynh, thuộc Đại học South Carolina (Mĩ).  Có lẽ nhiều người Việt Nam ở trong nước, kể cả giới khoa học, ít biết đến hai người này, nhưng trong giới thống kê học, họ là hai nhà khoa học có tiếng và có ảnh hưởng quan trọng.  Ông Huỳnh Huynh thuộc trường phái tần số và ông Phạm Gia Thụ thuộc trường phái Bayes.

Như đề cập trong phần trên, trong các nghiên cứu khoa học, việc xác định số lượng đối tượng cần thiết cho công trình nghiên cứu cực kì quan trọng, vì nó chẳng những là vấn đề khoa học mà còn là vấn đề đạo đức khoa học.  Đóng góp quan trọng của ông Phạm Gia Thụ trong lĩnh vực này xác định số lượng đối tượng nghiên cứu (hay xác định cở mẫu – sample size determination) theo lí thuyết của trường phái Bayes có thể nói là cơ bản.  Trong một bài báo đăng trên tập san The Statistican năm 1992 (1) giáo sư Thụ đã mở ra một hướng đi cho lĩnh vực này.  Tiếp tục công trình năm 1992, ông Thụ còn cho xuất bản một số công trình có giá trị trên các tập san có uy tín cao trong khoa học thống kê như Journal of the Royal Statistical Society (Anh), Statistics, Communications in Statistics-Theory and Methods, Mathematical and Computer Modelling, v.v… Kể từ khi công trình nghiên cứu năm 1992, cho đến nay không một bài báo khoa học nào về xác định cở mẫu theo trường phái Bayes mà không nhắc đến bài báo của tác giả "Pham-Gia T" (tức ông Phạm Gia Thụ).

Trong khoa học, có một công trình nghiên cứu chẳng những được nhiều đồng nghiệp trên thế giới tham khảo, mà còn được đồng nghiệp tham gia bình luận, khen ngợi là một vinh dự lớn.  Công trình của giáo sư Thụ là một công trình như thế: được tham khảo rất nhiều lần, và được ban biên tập tập san mời đồng nghiệp trên thế giới tham gia bình luận.  Cho đến nay, nếu một nhà khoa học nào mới bước vào nghiên cứu về lĩnh vực này mà "quên" không nhắc đến tác giả Pham-Gia thì chắc chắn sẽ bị người bình duyệt nhắc nhở ngay: đề nghị tác giả tham khảo công trình của Pham-Gia!  Khi một công trình khoa học về lĩnh vực xác định cở mẫu theo trường phái Bayes, ông còn được ban biên tập tập san mời bình luận (2).

Trong nhiều nghiên cứu khoa học, nhà nghiên cứu phải so sánh nhiều nhóm đối tượng, và mỗi nhóm thường được thẩm định (đo lường) nhiều lần.  Chẳng hạn như trong nghiên cứu về hiệu quả của hai loại thuốc trong việc điều trị loãng xương, nhà nghiên cứu phải có hai nhóm bệnh nhân, mỗi bệnh nhân sẽ được mời tái khám nhiều lần để nhà nghiên cứu thu thập dữ liệu.  Trong thuật ngữ thống kê, người ta gọi đó là nghiên cứu dạng repeated measure design (thiết kế tái đo lường).  Một trong những khó khăn trong việc phân tích các dữ liệu thu thập từ những nghiên cứu này là có nhiều giá trị cho mỗi bệnh nhân.  Vào đầu thế kỉ 20, giáo sư Ronald Fisher, nhà thống kê học người Anh và cũng là "cha đẻ" của khoa học thống kê ứng dụng, có đề suất một phương pháp phân tích có tên là phân tích phương sai (analysis of variance) cho các thí nghiệm có nhiều nhóm đối tượng, mà sau này sách giáo khoa gọi làkiểm định F (lấy chữ cái của tên ông Fisher đặt tên cho phương pháp).  Nhưng phương pháp của ông Fisher có vấn đề khi ứng dụng vào nghiên cứu tái đo lường vì sự tương quan giữa các giá trị đo lường trong mỗi đối tượng nghiên cứu không được điều chỉnh thỏa đáng.  Vấn đề này kéo dài mãi đến năm 1970, đến khi công trình của ông Huynh và đồng tác giả Feldt.  Trong một bài báo chỉ 7 trang rất quan trọng đăng trên tập san số 1 của khoa học thống kê,Journal of the American Statistical Association hay JASA (3), hai ông Huynh và Feldt đã giải quyết vấn đề này bằng cách chỉ ra điều kiện cần thiết để kiểm định F có ý nghĩa thống kê.

Công trình của ông Huynh và Feldt gây một tiếng vang cực kì lớn trong khoa học thống kê. Bất cứ phần mềm máy tính nào, bất cứ sách giáo khoa nào, bất cứ bài báo nào về phân tích phương sai tái đo lường mà không tham khảo hay nhắc đến bài báo năm 1970 của hai ông.  Rất ít công trình nghiên cứu nào trong thống kê học lại có ảnh hưởng sâu rộng như thế, và cái tên Huynh và Feldt nay đã trở thành những cái tên quen thuộc: "The Huynh-Feldt epsilon" hay "Two-factorial Huynh-Feldt test".  Có thể nói không ngoa rằng đó là một trong những bài báo khoa học có ảnh hưởng lớn nhất đến khoa học (chứ không riêng gì khoa học thống kê) trong thế kỉ 20.  Bạn đọc có thể gõ "Huynh-Feldt" trên Google sẽ thấy bao nhiêu bài báo nói về phương pháp này!

Đến năm 1976, hai ông Huynh và Feldt lại công bố một công trình nghiên cứu chỉ 13 trang gây thêm tiếng vang trong ngành mà sau này người ta hay nhắc đến với thuật ngữ "The Huynh-Feld correction" (4).  Ngoài hai công trình tiêu biểu này, ông Huynh còn có nhiều đóng góp trong lĩnh vực thẩm định giáo dục bằng phân tích thống kê được công bố trên các tập san số 1 trong ngành tâm lí học và thống kê tâm lí học như Psychometrika, Psychological Bulletin, hay nghiên cứu thống kê giáo dục (Journal of Educational Statistics, Journal of Educational Measurement).

Khoa học thống kê ở Việt Nam

Trong vòng trên dưới 100 năm qua, thống kê học đã nhanh chóng tiến vào tất cả các lĩnh vực nghiên cứu khoa học, và trong quá trình chinh phục, thống kê học tạo nên những bộ môn nghiên cứu mới.  Các bộ môn đó có thể kể đến như biometry (sinh trắc học), technometrics (kĩ thuật trắc học), bioinformatics (thông tin học), psychometry (tâm lí trắc học), anthropometry (nhân trắc học), v.v…  Thật vậy, khoa học thống kê đã chi phối đến tất cả các bộ môn khoa học, và ảnh hưởng của các nhà thống kê đã lan tràn đến mọi bộ môn khoa học với sự chinh phục nhanh chóng sánh ngang hàng với Attila, Mohammed, và loài bọ Colorado" ("Statisticians have already over-run every branch of science with a rapidity of conquest rivalled by Attila, Mohammed, and the Colorado beetle" (Maurice Kendall, 1942).

Tuy khoa học thống kê đã góp phần tạo nên diện mạo khoa học hiện đại ngày nay, nhưng ở nước ta, khoa học thống kê còn rất kém.  Trong khi bất cứ đại học nào ở các nước tiên tiến đều có một bộ môn thống kê học, một bộ môn chuyên cung cấp tư vấn về thống kê học cho các nhà khoa học thực nghiệm, thì ở nước ta, các bộ môn khoa học vẫn còn giới hạn ở khoa toán, và chỉ xoay quanh một vài vấn đề căn bản thống kê.

Sự "lạc hậu" về khoa học thống kê ở nước ta đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến khoa học nước nhà.  Vì các bộ môn khoa học thực nghiệm ở nước ta chưa được sự hỗ trợ từ khoa học thống kê, cho nên rất nhiều nghiên cứu khoa học ở nước ta chưa có chất lượng cao, và chưa thể công bố trên các tập san khoa học quốc tế.  Người viết bài này biết rất nhiều trường hợp nhiều nghiên cứu từ Việt Nam chỉ vì không được thiết kế đúng phương pháp, hay việc phân tích dữ liệu chưa đúng tiêu chuẩn khoa học nên bị các tập san khoa học từ chối công bố.  Hệ quả là sự hiện diện của khoa học Việt Nam trên trường quốc tế còn quá khiêm tốn.  Chỉ tính trong ngành y sinh học mà thôi, trong vòng 40 năm qua, số lượng bài báo từ các nhà khoa học ở Việt Nam chỉ trên dưới con số 300.  Con số này cực kì khiêm tốn nếu so với 5.000 từ Thái Lan hay trên 20.000 từ Singapore.

Như đã đề cập phần trên, một công trình nghiên cứu dù có tốn bao nhiêu tiền, bao nhiêu năm tháng, mà không được thiết kế đúng và không được phân tích đúng phương pháp thì không thể xem là "khoa học".  Muốn thiết kế nghiên cứu đúng và phân tích dữ liệu đúng tiêu chuẩn, cần phải có sự đóng góp của khoa học thống kê và nhà thống kê học.  Nhưng Việt Nam thiếu các nhà khoa học thống kê.  Tuy nước ta có một viện toán học bề thế và có uy tín trên trường quốc tế, thì những môn học thiết thực nhất và căn bản nhất về thống kê ứng dụng lại nhờ các chuyên gia nước ngoài vào giảng dạy ngắn hạn.  Mấy năm gần đây, trong quá trình hội nhập với thế giới, chúng ta phát hiện rằng khoa học nước ta còn kém về thống kê ứng dụng, và các cơ quan tài trợ học bổng phải gửi sinh viên ta đi học ở nước ngoài, kể cả … Thái Lan!

Do đó, để nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học ở nước ta, một chiến lược quan trọng cần đặt ra là phát triển khoa học thống kê trong các trường đại học.  Chúng ta cần rất nhiều nhà khoa học thống kê trong bất cứ lĩnh vực nghiên cứu nào.  Ở nước ta, để phát triển khoa học nói chung và công nghệ sinh học nói riêng, chúng ta cần một đội ngũ nhà khoa học thống kê hơn là cần một đội ngũ nhà toán học.  Người viết bài này tin rằng cùng với thế mạnh của toán học Việt Nam hiện nay, đội ngũ các nhà khoa học thống kê gốc Việt ở nước ngoài có thể và có khả năng đóng góp một phần công sức cho chiến lược phát triển khoa học nước nhà.

Chú thích

(1) T. Pham-Gia and Turkkan. Sample Size Determination in Bayesian Analysis. The Statistician 1992; 41(4), 389-397 - with:  Comments by C. Adcock, 399-404.

(2) Pham-Gia T.  Sample Size Determination in Bayesian Analysis: a Commentary. The Statistician, JRSS, Series D 1995;44:163-166.

(3)  Huynh H, Feldt LS.  Conditions under which mean square ratios in repeated measurement designs have exact F distributions.  Journal of the American Statistical Association 1970; 65:1582-1589.

(4)  Huynh H, Feldt LS.  Estimation Box correction for degrees of freedom from sample data in the randomized block and split-plot designs.  Journal of Educational Statistics 1976; 1:69-82.

Xin nói thêm rằng người viết bài này chỉ ngưỡng mộ công trình nghiên cứu, nhưng chưa quen biết và chưa bao giờ gặp mặt hai nhà khoa học thống kê đề cập trong bài viết.

Tuesday, July 27, 2010

Tiếng Anh bài 19. mô tả tình trạng bất định

Bất định (uncertainty) thường bàng bạc trong văn chương khoa học.  Đọc một bài báo khoa học nào, chúng ta cũng thấy những câu văn với những tính từ hay trạng từ mô tả tình trạng có thể nói là "chẳng có gì chắc chắn".  Nhưng tính bất định chính là đặc điểm của khoa học.  Nhưng người có kinh nghiệm thường sử dụng từ thích hợp để mô tả tình trạng bất định theo mức độ của kiến thức hiện hành.

Đối với người Việt chúng ta chưa quen (hay mới làm quen) với tiếng Anh, việc chọn một từ thích hợp để mô tả tình trạng bất định không phải là điều dễ dàng.  Tiếng Việt chúng ta chỉ có vài từ như "có thể", "có lẽ", "có khả năng", v.v… để mô tả tình trạng bất định, còn tiếng Anh thì có rất nhiều từ (như probably, possibly, may be, perhaps, certainly, likely, v.v…) để nói lên cùng trạng thái.  Vấn đề trở nên khó khăn là chúng ta dùng từ nào để phản ảnh mức độ bất định.  Mức độ ở đây có thể hiểu như xác suất từ 0 đến 1, tức là một thước đo mang tính liên tục.

Không có sách vở nào chỉ cách dùng những từ tiếng Anh cho từng mức độ của sự bất định.  Thật vậy, tôi tìm trong sách về sử dụng tiếng Anh, từ "ông tổ" Fowler đến sách hiện đại, chẳng thấy sách nào đề cập đến việc phân biệt probably, possibly, may be, perhaps, certainly, likely, v.v… Trong tình trạng vô vọng, tôi tình cờ học được vài từ quan trọng.  Số là hôm qua, trong một cuộc họp hàng tháng, hội đồng về an toàn trong Viện Garvan liệt kê một số vấn đề được xem là có nguy cơ (như nguy cơ bị điện giật, nguy cơ bị thương bởi hóa chất và gas, nguy cơ bị nhiễm từ máu, nguy cơ building bị … sập) và họ phải đánh giá nguy cơ bằng những từ tiếng Anh.  Họ sử dụng thuật ngữ của … quân đội Úc để đánh giá nguy cơ!  Thế là tôi phải hỏi xin tài liệu về thuật ngữ nguy cơ để vừa học thêm, vừa làm tài liệu tham khảo cho các bạn nào đang làm nghiên cứu sinh.

Bảng sau đây tóm lược những từ thông dụng để mô tả mức độ khẳng định của kiến thức:

Mức độ khẳng định

Động từ

Tính từ hay trạng từ

Ví dụ

Hoàn toàn (completely); 100%

is / is not

will / will not

must / must not

Certain / certainly

Definite / definitely

Clear / clearly

Undoubted / Undoubtedly

The data clearly support the hypothesis that X is a cause of Y

Mạnh (strong); 75-100%

Can / cannot

Should / Should not

Probably (not)

Presumably

Presumably, the authors have evidence to show that …

Trung bình; 50-75%

Could / could not

Likely / unlikely

It's unlikely that the MCR4 gene is related to bone phenotype

Thấp; 25-50%

May / may not

Might / might not

Possible / possibly

Perhaps / perhaps not

It is possible that other factors could be responsible for the effect

Yếu; <25%

It is said that

It appears that

It seems that

 

There is evidence to suggest that

Hi vọng những "thuật ngữ" trên đây giúp ích cho các bạn khi chọn từ để mô tả tình trạng bất định.

TÔ HOÀI - DÂN KẺ CHỢ

TÔ HOÀI - DÂN KẺ CHỢ

 

Lương Văn Hồng

 

  

KẺ CHỢ là  tên gọi dân gian kinh thành Thăng Long ngày xưa. Đời sống kinh tế - xã hội của Kẻ chợ gắn bó mật thiết với mạng lưới chợ - phố. KC được xem là nơi phồn vinh bậc nhất, đương thời có câu "Nhất Kinh kì, nhì phố Hiến".

Từ "Kẻ Chợ" có một nét đặc sắc riêng và xét về mặt ngữ nghĩa, ở từ này  tiềm ẩn nhiều yếu tố lịch sử, văn hoá, phong tục…   Người Hà Nội còn được gọi là dân kẻ chợ.  Những ứng xử của Người  Hà Nội Tô Hoài cũng mang dấu ấn lịch sử, văn hóa, phong tục … của dân kẻ chợ.

                                                         ***

Cách đây 1.000 năm, mùa hè năm Canh Tuất (1010) Lý Công Uẩn đã tự tay viết chiếu (thủ chiếu) – Chiếu dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La.

 

Tương truyền khi Vua Lý rời kinh đô từ Hoa Lư đến đất Đại La  thì thấy một con rồng bay lên cho nên đã quyết định đổi tên Đại La thành kinh đô  Thăng Long (nghĩa là rồng bay lên). Một quần thể kiến trúc thành Thăng Long hình thành theo kiểu tam trùng thành quách với vòng ngoài là La Thành, vòng giữa là Hoàng Thành và vòng trong cùng là Cấm Thành. Thăng Long nằm ở cả hai bên bờ sông Hồng nhưng tập trung chủ yếu bên hữu ngạn. Các hiện vật khảo cổ minh chứng cho sự hiện diện của Hà Nội ở cả bốn thời đại văn hóa: Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun và Đông Sơn. Trải qua 1000 năm với những thăng trầm trong lịch sử Việt Nam,  Thăng Long-Hà Nội vẫn luôn là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của đất nước, là nơi tụ hội nhân tài của mọi miền  đất nước với một hệ thống di tích dày đặc gồm hơn 500 ngôi đình, 600 ngôi chùa, hơn 300 đền miếu, trong đó chứa đựng hơn 25 nghìn hiện vật mà phần lớn là tác phẩm nghệ thuật tạo hình (theo thống kê năm 2008).  Thăng Long - Hà Nội nơi lắng hồn núi sông ngàn năm.

 

                                               ***

Tuy không nằm trong văn bản nhà nước của các triều đại, song từ  KẺ CHỢ  có một nét đặc sắc riêng và luôn ở nơi cửa miệng người dân. Từ "kẻ chợ" (không viết hoa) được giải thích là "Nơi đô thị, thường dùng để chỉ kinh đô Thăng Long".  Bài viết này chỉ xoay quanh văn hóa (ứng xử nơi) kẻ chợ, cụ thể hơn là xoay quanh dân kẻ chợ  Tô  Hoài, vì thông qua con người có thể hiểu văn hóa của một cộng đồng. Nơi đây "nhịp sống tấp nập, đầy những sắc màu mà  không thấy ở đâu khác: hoạt động kinh doanh tập trung có lịch sử lâu đời với những bí quyết riêng, dựa vào chữ tín và cơ chế tin đồn, tính đa văn hoá, đa chức năng" (theo nhận định của các chuyên gia Đức).

 

Về Người  Hà Nội có bài viết của Hoàng  Hưng, có bài viết của Lê Phú Khải.  Tuy không phải là nhà nghiên cứu, nhưng họ là người Hà Nội gốc kể về người Hà Nội gốc:    Hoàng Hưng có tám nhận xét  về Người Hà Nội:

 

1.Coi trọng đời sống gia đình. Một gia đình yên ổn, nền nếp, có trên có dưới, có tình có nghĩa. Khó hy sinh gia đình cho sự nghiệp, lý tưởng. 

 

2/ Có ý thức      mạnh mẽ về lợi ích cá nhân, quyền tư hữu, không dễ để người khác xâm phạm, dễ bị coi là "khoảnh", tính toán, nhưng cũng không thích xâm phạm lợi ích người khác, sòng phẳng, rạch ròi ("yêu nhau rào giậu cho kín"). 

 

3/ Coi trọng tự do cá nhân của mình cũng như của người. Trong quan hệ ngoài gia đình như bà con, bè bạn, đồng nghiệp, hàng xóm… giữ giới hạn ở mức phải chăng, "thoang thoảng hoa nhài". Ngại tranh chấp, đối đầu, "dĩ hoà vi quý". Dễ bị xem là "khôn ngoan", dễ trở thành ba phải, "hoà cả làng".

 

4/ Lịch sự, tế nhị trong giao tiếp xã hội, cả về ăn vận lẫn lời ăn tiếng nói. Ghét sự thô thiển, lố bịch, trắng trợn. Ngại "nói toạc móng heo". Chỉ muốn làm người tử tế, biết điều.

 

5/ Không chỉ cắm cúi làm việc mà biết hưởng thụ cuộc sống, và hưởng thụ một cách hào hoa, thanh nhã, có chừng mực, không mê đắm, sa đà hay "sả láng".

6/ Tôn trọng nền nếp có sẵn: gia phong, luật lệ, quy ước xã hội. Có thể thích nghi với sự thay đổi chứ không chủ động tạo nên thay đổi. 

 

7/ Trọng danh dự, trọng chữ "tín" trong các quan hệ. Tự trọng trong công việc, có lương tâm nghề nghiệp. Có thể kiên nhẫn để vươn lên hoặc khôi phục quyền lợi, điạ vị bị mất một cách từ tốn. Không thích mạo hiểm hay thành công bằng mọi giá. 

 

8/ Trung dung, một vừa hai phải. Ôn hoà, không cực đoan hay quyết liệt. Lý trí mạnh hơn tình cảm. Tư duy lô-gích mạnh hơn trực cảm, bản năng.

 

Lê Phú Khải nói về đặc trưng phổ quát của người Hà Nội:

 

"Người Hà Nội ưa thích sự liêm chính trong sạch không có "máu" tham nhũng, không thích hà hiếp kẻ dưới, người Hà Nội thanh lịch đến lịch lãm. Họ rất hào hoa, phong nhã, có trí thông minh, có tư duy sắc bén, lập luận chặt chẽ, có ngôn ngữ trong sáng, gọn gàng, có sức hấp dẫn với mọi người. Nếu ở một thời đại thanh bình, người Hà Nội sẽ là những nhà khoa học trung thực, họ có phẩm chất của những vị "tôi hiền" trong một triều đình có "vua sáng", có minh quân.  Người Hà Nội không có chí tiến thủ, không dám làm việc lớn "khai sơn phá thạch" "lay thành nhổ núi" như các cụ Phan, cụ Hồ ở miền sông Lam núi Hồng. Người Hà Nội sống khép kín, lo gia đình vợ con, không xâm phạm của ai, quan hệ thì có đi có lại, không hào phóng như người Nam Bộ. Người Hà Nội  sống bình lặng, lịch lãm, tôn trọng lẽ phải đạo đức và chính nghĩa,  thích gặm nhấm nỗi cô đơn, buồn tủi của kiếp người. Người Hà Nội không ưa sự ồn ào phô trương, rất ghét thói "trưởng giả học làm sang" kệch cỡm lố bịch. Họ sống bình lặng, nhưng rất sành điệu ăn chơi".

 

Nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn  viết tới 30.000 chữ về NGƯỜI HÀ NỘI TÔ HOÀI.  Ông có quan sát, có thu thập ý kiến của nhiều người về Tô Hoài… nhưng mỗi lúc một khác

 

Trong bài "Tô Hoài – người sống tận tụy với nghề" (sách "Tô Hoài – về tác gia và tác phẩm", NXB Giáo dục)Vương Trí Nhàn viết: "Là người Hà Nội gốc, ông giữ được và ngày càng trau dồi cái bặt thiệp riêng, trong sự ăn uống, sự tiếp đãi khách khứa, ở đấy cái sành sỏi đã trở thành tự nhiên, và đứng đằng sau nó, là một nhu cầu ngày càng cao về sự hưởng thụ. Song chỗ hơn người của Tô Hoài là không bị những sành sỏi đó ràng buộc".

 

Trong bài "Cuộc phiêu lưu giữa trần ai cát bụi" – sách "Nghiệp văn", NXB Văn hóa Thông tin, 2001),Vương Trí Nhàn viết "So với các cây bút đương thời, Tô Hoài có lẽ là nhà văn giàu chất chuyên nghiệp bậc nhất… Một nét đặc biệt cũng thấy rõ trong đời viết văn của Tô Hoài là ngoài nghề viết, ở ông luôn luôn có một cuộc sống khác, cuộc sống người cán bộ chính trị, hoặc nhìn rộng ra, cuộc sống nhà hoạt động xã hội".

 

Trong "Tô Hoài nhìn từ một khoảng cách gần", Vương Trí Nhàn nhận xét về Tô Hoài: "Người tài quá, mà lại cũng khinh người rẻ của, ma giáo quá".

 

Rồi Vương Trí Nhàn "đúc kết": "Cái ý nghĩ chi phối một người như Tô Hoài – ý nghĩ rằng cuộc đời là một thứ trò chơi. Cốt chơi, cốt được, chẳng lẽ mình lại thua, chứ thật ra, chẳng coi việc gì là nghiêm chỉnh, kể cả việc viết văn, kể cả làm cán bộ cách mạng" .

 

Đọc "Tô Hoài nhìn ở một khoảng cách gần", ngoài chuyện "phang" một người đang sức yếu, thì cái điều luẩn quẩn trong đầu tôi nhiều nhất chính là khái niệm "gần" (Phan Thị Vàng Anh).

 

 Vương Trí Nhàn viết nhiều về Tô Hoài.  Ông viết khi coi Tô Hoài là thần tượng, ông viết khi coi Tô Hoài cũng tầm thường. Khi còn trẻ người ta hay sống lý tưởng hóa vấn đề, ngước mắt nhìn lên coi tất cả đều một mầu hồng. Đó là lúc Vương Trí Nhàn  sống trong tưởng tượng với thần tượng của mình. Khi đã trải nghiệm cuộc sống thì cũng là lúc ta đã già, "ta thấy toàn mộng cùng là chiêm bao", đời toàn chuyện tầm phào.  Giờ thì thần tượng là "lão" mà mình đã là "ông" theo quan niệm dân gian "chiếu trên" nơi làng quê, nên không ngước lên mà nhìn ngang, nhìn từ khoảng cách gần:  Té ra thần tượng khi xưa, có tài nhưng cũng có tật.  Giờ đây Vương Trí Nhàn  thấy mặt khác của cuộc đời.  Mỗi vật đều có hai mặt như âm dương, trong dương có âm, trong âm có dương, chính vì thế  mới giữ được cân bằng để tồn tại và phát triển.  Tô Hoài hiểu điều đó, nên "Đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy.  Rõ ràng dân kẻ chợ Tô Hoài có nhiều cách ứng xử, nơi ai cũng nhiều mánh lới "Buôn tay mặt, bắt tay trái",  ở nơi     "Chợ có hàng rau hàng vàng, làng có kẻ sang người hèn","Chợ chưa họp kẻ cắp đã đến".

Vương Trí Nhàn đem tách hai mặt ra nên thấy đời khó hiểu.   Đời không khó hiểu như Vương Trí Nhàn nghĩ! 

BẤM HUYỆT KIỂM TRA SỨC KHOẺ.

Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật đem đến cho con người nhiều lợi ích về mặt thể xác. Thế nhưng người ta quá dựa vào những thiết bị này và quên đi những 'quà tặng' trời cho để có thể giúp phòng và tránh nhiều bệnh tật.

Chúng tôi giới thiệu một số phương pháp của bác sĩ Cerney trong sách 'Acupressure by acupressure' (tạm dịch là châm cứu bằng cách bấm huyệt), nhà xuất bản New York 1982. Đó là những gì kinh nghiệm mà ông thu thập được sau 25 năm theo hoc và nghiên cứu về Đông y ở Trung Quốc, vì vậy, những kinh nghiệm này rất quý và có hiệu quả tốt mà chúng tôi đã thực hiện từ năm 1985 đến nay

A- Mỗi buổi sáng, trước khi bắt đầu bước vào sinh hoạt hằng ngày, bạn chỉ cần bỏ ra chừng 10 phút để kiểm tra một số bộ phận cơ quan phủ tạng quan trọng và khi phát hiện sớm các rối loạn (nếu có) và điều chỉnh ngay, sẽ mau phục hồi.

1.Kiểm tra Tim.

Ngửa bàn tay, ấn tìm ở kẽ xương ngón tay thứ 4 và 5 (huyệt Thiếu phu). Huyệt này cho biết những biểu hiện của tim. Hoặc nắm vào góc móng tay út, phía ngón áp út tức huyệt Thiếu xung, nếu huyệt này đau chứng tỏ tim làm việc quá sức. Nhớ rằng khi kích thích huyệt này có ảnh hưởng đến tim. Nắm 2 ngón tay vào huyệt này thật chặt, day mạnh và như lắc tay, có thể tăng sức khoẻ.

Hoặc đặt ngón cái vào lòng bàn tay, chỗ khe xương ngón thứ 4 và 5 (Thiếu phủ). Ngón trỏ đặt ở phía đối diện (ở mu bàn tay – tức huyệt Trung chử). Xoa và bóp, không những trợ lực cho tim mà còn tăng sức cho cơ thể nữa.

2.Kiểm tra Phổi.

Ngửa bàn tay, dùng ngón tay ấn vào chỗ lõm đầu lằn chỉ cổ tay (dưới ngón cái) tức huyệt Thái uyên, đồng thời gấp các ngón tay vào lòng bàn tay, đầu ngón tay trỏ chạm vào vùng thịt ở mô ngón cái (huyệt Ngư tế) để kiểm tra phổi. Day 2 huyệt này làm lượng ôxy trong phổi lưu thông qua đường kinh Phế.

3.Kiểm tra Ruột già.

Khép ngón tay cái vào sát ngón trỏ, chỗ cao nhất của thịt lồi lên là huyệt ( tức huyệt Hợp cốc ), day và ấn vào huyệt này, nếu đau là ruột già không được tốt lắm.

Nên ăn thức ăn nhẹ và dễ tiêu. Trong khi đó ấn vào huyệt này cho đến khi dưới ngón tay thấy hết đau. Huyệt đặc biệt này không những làm tan những chất độc tụ ở ruột già mà còn làm cho khỏi mất ngủ. Mỗi tối nên xoa ấn huyệt này là cơn mệt mỏi sẽ tiêu bớt.

4.Kiểm tra Thận và Sinh thực tuyến (sinh dục).

Để tăng lực hoạt động cho thận, bàng quang và sinh thực tuyến: Nắm chặt lấy gân gót chân và bấm mạnh, (tương đương các huyệt Côn lôn, Bộc tham của kinh Bàng quang, Chiếu hải, Thái khê của kinh Thận), ở đây mà thấy đau đều tương ứng với rối loạn ở thận, bàng quang, bộ phận sinh dục.

Nhiều người thấy có dấu hiệu khoái cảm cao độ ở điểm này mà không rõ lý do tại sao. Dùng lòng bàn tay cụp vào gót chân (phía lòng bàn chân) bóp mạnh và sâu vào. Nếu ở đây thấy đau là sinh thực tuyến bị yếu. Ngược lại ấn vào điểm này sẽ tăng cường lực cho sinh thực tuyến. Điểm này cũng làm hết đau lưng và giữ một vai trò trong việc làm cho đầu gối hết cứng.

5.Kiểm tra gan..

Ấn sâu vào chỗ lõm giữa ngón chân cái và ngón thứ 2 (huyệt Thái xung), nếu thấy hơi khó chịu là gan hoạt động yếu. Day mạnh để điều chỉnh.

Dùng ngón tay cái và ngón trỏ đè vào gốc móng chân cái (cả 2 chân), day ấn khoảng 10 lần, để điều chỉnh đường kinh Can và Tỳ.

6.Kích thích Lưng

Có thể nằm ngửa trên giường, hoặc ngồi dựa vào ghế và thực hiện như sau: Nắm đấm bàn tay vào rồi đặt vào mấu đốt sống lưng, song song cột sống. Động tác này không những làm cho háng bớt đau mà còn làm cho thần kinh toạ giảm đau.

Co chân lên, duỗi ra. Giơ tay lên khỏi đầu duỗi ra, khi thực hiện động tác này thì thở sâu. Với cách thức này sẽ cảm thấy 1 cảm giác ấm chạy suốt thân thể. Vùng đau sẽ biến mất, vùng háng đang chịu đau sẽ bớt đau, cảm giác đau ở lưng, cột sống và vùng bụng trên, dưới sẽ bị vô hiệu hoá. Dùng tay ấn vào các đốt sống sẽ làm cho các chất độc ở đây tan đi.

7.Kích thích Gan, Mật

Để bàn tay vào vùng sườn bên phải, vị trí của gan mật, cong tay bóp nhẹ, lần đầu tiên làm có hơi đau. Đau là dấu hiệu cho thấy có sự rối loạn bệnh lý ở gan. Sau vài lần kích thích, gan mạnh lên sẽ hết đau (đây là dấu hiệu cho thấy chúng ta thực hiện đúng phương pháp). Lần lên đến giữa xương ức (chấn thuỷ) cong tay lại, nắm chặt rồi thả ra 3 lần để kích thích mật. Tác động này cũng đẩy bớt hơi xả ra khỏi ống dẫn mật cũng như để tăng lực cho mật.

Chuyển sang đến phía đối diện vùng bụng, dưới sườn trái. Nắm vào nhả ra 3 lần một cách từ từ.

Cần nhớ là mỗi bộ phận ở bụng do thần kinh tuỷ sống điều khiển, nghĩa là cũng phải ấn vào những điểm điều khiển ở cột sống (dọc hai bên cột sống)

Thí dụ: Khi mật tắc nghẽn sẽ có 1 điểm đau giữa vùng mật. Đây là huyệt phản ứng (a thị huyệt), cần xoa dịu huyệt này, ngoài ra còn phản ứng đau ở quãng ngay cột sống lưng thứ 5-9 (D5 – D9), có thể dùng 1 trái banh lông để lăn hoặc nhờ một người khác ấn ngón tay cái vào khi bạn nằm sấp.

Chú ý: Lúc nào cũng thật nhẹ tay. Nếu đau ở bất cứ huyệt nào, ấn nhẹ cho đến khi hết đau. Nếu vẫn còn đau không ngừng, tạm ngưng để ngày khác sẽ làm.

8.Giữ cho tiêu hoá tốt

Vì thức ăn là một nguồn lực cho cơ thể, do đó việc tiêu hoá phải được duy trì để bảo tồn những nguyên tố của sức sống.

Cụp các ngón tay của cả 2 bàn tay lại dưới phía sườn bên phải ấn vào vùng này là huyệt Nhật nguyệt (kinh Đởm), Phúc ai (kinh Tỳ). Nắm chặt vào đếm đến 3, buông ra, thơ mạnh, ấn vào lần nữa, đếm đến 3, làm 5 lần. Làm qua phía bụng bên phải, nơi huyệt Lương môn (kinh Vị – Rốn lên 4 thốn ra ngang 2 thốn). Rồi tới vùng chấn thuỷ, nơi huyệt Cưu vĩ và Cự khuyết (mạch Nhâm) cũng làm như vậy. Động tác này giúp tiêu hoá hoạt động, các tế bào được phục hồi, sức khoẻ phục hồi.

9.Kích thích Rốn

Đặt ngón tay thứ 3 ( ngón giữa) vào lỗ rốn, ấn sâu vào, ấn vào vùng thấy đau, xoa quanh rốn nhè nhẹ đến những vùng chung quanh. Việc xoa quanh rốn làm giảm tác động đau và bớt mức độ mệt mỏi. Bây giờ đặt lòng bàn tay vào bụng, tay phải ở bụng phải, tay trái ở bụng trái lấy tay kéo và đẩy về phía cột sống làm 10 lần thật đều. Đẩy bụng dưới lên hướng sườn, làm nhẹ nhàng nhưng chắc chắn, có thể cảm thấy hoặc nghe thấy tiếng òng ọc là tốt. Dừng lại và nghỉ một chút rồi dậy uống một ly nước nóng.

B- Mười phút để làm tăng sức khỏe

Theo phương pháp của bác sĩ Cerney : Bất cứ lúc nào cơ thể cảm thấy mệt mỏi, mất sức, chỉ cần hơn kém 10 phút áp dụng thủ pháp kích thích dưới đây, có thể làm cho cuộc đời thay đổi hơn.

1. Kích thích đường kinh Tâm:

nắm chặt ngón tay út và xoay qua xoay lại. Ngừng lại, kéo lên, cong về phía lòng bàn tay rồi xoay lại 1 lần nữa, làm vậy 5 giây. Bây giờ bóp mạnh đầu ngón tay giữa. Nắm chặt, thả ra, làm 3 lần, mỗi lần 3 giây.

2. Ấn vào khu 'tim'

ở lòng bàn chân, có một vùng phản xạ mạnh ở ngang dưới đầu xương ngón chân thứ 4, chân trái. Dùng huyệt này để tăng lực tối đa, nên làm vào buổi sáng khi thức dậy.

3. Sờ vào những vùng căng cứng (đau) ở ngực trái.

Đôi khi bên phải cũng có một ít, có thể có khối u nhỏ ở trong bắp thịt quanh tim, thường ở trên đường thẳng núm vú. Ấn và xoa cho đến khi chúng tan đi. Ở hố nách cánh tay trái dài xuống phía trong cũng làm vậy. Có thể làm cả cánh tay phải. Áp dụng xoa ấn trên đường kinh Tâm, cứ làm cách quãng, dài xuống ngón tay út.

4. Đặt tay vào vùng chấn thuỷ ấn vào 3 giây, thả ra, thở mạnh, rồi lại ấn, thả ra… làm 5 lần.

Đứng dựa lưng vào cạnh khung cửa. Đặt những chỗ đau giữa thăn thịt giữa cột sống, ấn mạnh lưng và làm như vậy để kích thích thần kinh cột sống đối với tim. Đây là một cách tự động tạo nên 1 tín hiệu truyền lên não, từ đó truyền xuống tim khiến tim hoạt động mạnh hơn.

Ở đáy sọ (chẩm) sẽ sờ thấy một điểm đau hoặc nhiều hơn, dài xuống cột sống. Ấn vào những huyệt này vì mỗi huyệt sẽ tăng lực cho cơ thể hoạt động.

Sau cùng, tới vùng đáy sọ (huyệt Phong phủ), dùng ngón tay cái và ngón giữa ấn, xoa, bóp cho đến khi hết đau. Rồi chạy tay dài xuống 2 bên cột sống làm cho bắp thịt bớt căng thẳng.

Sưu tầm qua net.

Monday, July 26, 2010

Những cách diễn đạt trong bài báo khoa học (phần 2)

Trong văn chương khoa học, có một "câu kinh" mà ai cũng phải biết: trong sáng, trong sáng, và trong sáng.  Clarity, clarity, and clarity.  Do đó, tác giả bài báo khoa học phải nằm lòng mantranày trong khi viết.

(Tiếp theo phần 1: Những cách diễn đạt trong bài báo khoa học)

Làm sao để có một bài báo khoa học trong sáng? Có nhiều cách, nhưng theo tôi những cách thực tế nhất là tránh biệt ngữ, dùng thể chủ động, sử dụng cấu trúc song hành, và phân tích về cấu trúc và logic.

Để bắt đầu, chúng ta thử đọc đoạn văn sau đây:

Although the methodological approaches are similar, the questions posed in classic epidemiology and clinical epidemiology are different. In classic epidemiology, epidemiologists pose a question about the etiology of a disease in a population of people.  Causal associations are important to identify because, if the causal factor identified can be manipulated or modified, prevention of disease is possible.  On the other hand, in clinical epidemiology, clinicians pose a question about the prognosis of a disease in a population of patients.  Prognosis can be regarded as a set of outcomes and their associated probabilities following the occurrence of some defining event or diagnosis that can be a symptom, sign, test result or disease.

Có gì sai trong đoạn văn này?  Về mặt văn phạm, chẳng có gì sai cả.  Nhưng về cấu trúc logic thì đoạn văn trên có vấn đề.  Để thấy vấn đề, chúng ta cần phải phân tích ý tưởng và cách sắp xếp những câu văn trong đó.  Ý tưởng chính của đoạn văn này là hai bộ môn dịch tễ học kinh điển (classic epidemiology) và dịch tễ học lâm sàng (clinical epidemiology) khác nhau.  Đoạn sau đó cung cấp "bằng chứng" để minh họa cho ý tưởng đó.  Đoạn kế tiếp cung cấp thêm bằng chứng chi tiết hơn để làm cơ sở cho phát biểu đầu tiên.  Đây là một cấu trúc chuẩn trong văn chương khoa học.  Nhưng tại sao đọc lên vẫn thấy có cái gì lấn cấn?

Chúng ta thử đọc câu đầu:

Although the methodological approaches are similar, the questions posed in classic epidemiology and clinical epidemiology are different.

 

Câu văn chẳng có gì sai về mặt cú pháp, nhưng có vấn đề về cách viết.  Câu đầu tiên ("Although the methodological approaches are similar") có vẻ dài dòng một cách không cần thiết. Đến cụm từ "the questions posed" viết theo thể thụ động là điều không nên trong văn cảnh này, vì người ta sẽ hỏi "Ai đặt câu hỏi?"  Ngay cả động "are different"cũng dài dòng, bởi vì người viết có thể viết đơn giản hơn như differ.  Do đó, câu trên có thể sửa lại như sau:

Despite methodologic similarities, classic epidemiology and clinical epidemiology differ in aim.

Đến phần thứ hai của đoạn văn, tác giả muốn giải thích thêm về ý tưởng rằng hai bộ môn khác nhau. Đây là phần "bằng chứng":

In classic epidemiology, epidemiologists pose a question about the etiology of a disease in a population of people.  Causal associations are important to identify because, if the causal factor identified can be manipulated or modified, prevention of disease is possible.  On the other hand, in clinical epidemiology, clinicians pose a question about the prognosis of a disease in a population of patients.

 

Cấu trúc của đoạn văn này có thể tóm lược như sau: bộ môn 1 (classical epidemiology), chuyên gia (epidemiologists) đặt câu hỏi về X (etiology) trong một quần thể X (population). Bộ môn 2 (clinical epidemiology), chuyên gia (clinicians) đặt câu hỏi về Y trong một quần thể Y (patients).  Thế nhưng người viết tỏ ra lượm thượm trong cách hành văn.  Chẳng hạn như tại sao phải lặp lại "In classic epidemiology, epidemiologists pose a question". Thật ra, câu này không có thông tin !  Do đó, phần này có thể viết lại ngắn gọn theo cấu trúc vừa đề cập:

Classic epidemiologists pose a question about the etiology of a disease in a population of people. Clinical epidemiologists pose a question about the prognosis of a disease in a population of patients.

Đoạn kế tiếp là thêm bằng chứng để minh họa cho phát biểu:

Prognosis can be regarded as a set of outcomes and their associated probabilities following the occurrence of some defining event or diagnosis that can be a symptom, sign, test result or disease.

 

Câu này quá lượm thượm và thừa!  Prognosis thì dĩ nhiên là phải có outcome; defining event cũng là thừa.  Có thể viết lại gọn hơn:

Prognosis is the probability that an event or diagnosis will result in a particular outcome.

Những phân tích trên dẫn đến một số điểm chính mà tác giả bài báo khoa học cần phải biết và tránh như sau.  Tôi sẽ chuyển sang các ví dụ khác và sau đó quay lại với cách làm gọn đoạn văn trên.

Thứ nhất là tránh biệt ngữ (jargon).  Trong bài báo khoa học, kị nhất là biệt ngữ, tức là những chữ chỉ có người chuyên ngành mới biết, và tránh những viết tắt.  Điều này nói chung là đúng vì nhiều người đọc bài báo không phải là người trong ngành, nên những biệt ngữ hay viết tắt chỉ làm cho bài báo khó hiểu.

Ví dụ: "Recent research suggests that these two disorders may not be as distinct as previously was thought and the degree of overlap may be considerable"

Câu văn này (trích từ bài báo trên JBC) rất khó hiểu, vì có vài chữ không cần thiết (và có chút õng ẹo trong cách dùng chữ).  Thoạt đầu thì viết là "not as distinct as", nhưng sau đó thì "overlap", tức chẳng khác nhau gì về ý nghĩa.  Có nhiều cách viết lại câu này, nhưng theo tôi thì có thể viết ngắn hơn như sau:

"Recent research suggests that these two disorders may overlap considerably."

Có thể người giỏi tiếng Anh có cách viết khác hơn nữa.  Các bạn thử viết lại xem!

Thứ hai, cố gắng dùng thể chủ động (active voice) và viết câu văn ngắn gọn.  Như có đề cập trước đây, xu hướng chung của các tập san khoa học là khuyến khích dùng thể văn chủ động, thay vì thụ động, bởi vì các chuyên gia tiếng Anh cho rằng thể văn chủ động dễ hiểu hơn.  Ngoài ra, cũng nên cố gắng chọn từ ngắn gọn, như thay vì viết "in spite of the fact that", chỉ cần viết "even though" là đầy đủ.

Ví dụ: "The study of Barrett et al. (1997) is considered to be methodologically sound.  In that study, 1,000 bacteria were transformed with the novel gene."

Không có gì sai trong đoạn văn này.  Nhưng tác giả sử dụng đến 2 câu văn, nên làm đứt đoạn luồng đọc, và cách viết như thế được xem là không tốt mấy.  Có thể viết lại câu này đơn giản hơn:

Using sound methods, Barret et al. (1997), transformed 1,000 bacteria with the novel gene.

Thứ ba, tránh "văn chương làm dáng" với những từ không cần thiết mà còn có thể làm lạc hướng của chủ đề.  Có thể xem vài ví dụ sau đây để thấy sự không cần thiết của loại văn làm dáng.

Tránh

Nên

A progressive decrease in the death rate occurred

The death rate progressively decreased

These agents exert their action by inhibition of synthesis of cholesterol by the liver

These agents inhibit cholesterol synthesis by the liver

In classic epidemiology, the case-control can provide efficiencies when the occurrence of disease in the population is relatively rare

In classic epidemiology, the case-control study is efficient for rare diseases

There are many scientists who don't like to speak to journalists

Many scientists don't like to journalists

 

Thứ tư, sử dụng cấu trúc "song hành" (parallel construction) cho thích hợp.  Trong văn chương khoa học, đương nhiên là có nhiều ý tưởng và dữ liệu mà chúng ta muốn mô tả trong một câu văn, và cấu trúc "song hành" là tiện lợi nhất cho mục đích này.  Những trường hợp sau đây là thích hợp cho việc sử dụng cấu trúc song hành:

(a) Khi một cặp ý tưởng  — 2 ý tưởng nối kết nhau bằng and, or, hoặc but — nên được viết theo thể song hành:

Cardiac input decreased by 40% but blood pressure decreased by only 10%.

We hoped to increase the response and to improve survival

(b) Danh sách ý tưởng hay dữ liệu:

This research follows four distinct phases: (1) establishing measurement instruments, (2) measuring patterns, (3)developing interventions,  and (4) disseminating successful interventions to other settings and institutions.

If you want to be a good scientist you must study hard, listen well, and think critically about the scientific literature.

Sau đây là vài cấu trúc song hành không thích hợp, nên câu văn đọc lên rất … buồn cười (trích trong đề thi tuyển sinh tiếng Anh, 2010):

Nowadays cartoons are often used to make short, sharp comments on politics and governments as well as on a variety of social matters.

Until recently, the transfer of knowledge and culture

Thứ năm, cẩn thận với vị ngữ (predicate)! Một mệnh đề là một đơn vị của một câu văn.  Mệnh đề gồm có chủ ngữ và vị ngữ.  Một trong những yếu điểm của giới viết bài báo khoa học là "nén" quá nhiều dữ liệu trong một câu văn và làm cho người đọc khó theo dõi đâu là chủ ngữ và đâu là vị ngữ.

Thử đọc đoạn văn sau đây:

One study of 930 adults with multiple sclerosis (MS) receiving care in one of two managed care settings or in a fee-for-service setting found that only two-thirds of those needing to contact a neurologist for an MS-related problem in the prior 6 months had done so (Vickrey et al 1999).

Trong đoạn văn trên, one study là chủ ngữ, và found that là vị ngữ.  Cái lỗi của đoạn văn này là chủ ngữ và vị ngữ cách nhau xa quá (phải đọc một lúc mới thấy vị ngữ!).  Cụm từ of 930 adults with multiple sclerosis (MS) receiving care in one of two managed care settings or in a fee-for-service setting có thể xem là … rác.

One study found that, of 930 adults with multiple sclerosis (MS) who were receiving care in one of two managed care settings or in a fee-for-service setting, only two-thirds of those needing to contact a neurologist for an MS-related problem in the prior six months had done so (Vickrey et al 1999).

Lúc nào cũng phân tích logic và cấu trúc. Có người nói viết văn khoa học cũng giống như nấu ăn, tức phải nếm đi nếm lại trước khi dọn ra bàn ăn.  Tương tự, trong khi viết bài báo khoa học, người viết cũng phải xem xét cẩn thận cấu trúc của từng đoạn văn, câu văn, và từ ngữ.  Tôi thấy có 3 khía cạnh quan trọng nhất cần phải lưu ý: đoạn văn, logic, và cấu trúc.  Về đoạn văn tôi đã bàn trước đây, nên ở đây chỉ bàn về phân tích logic và cấu trúc.

Bây giờ, sử dụng các "nguyên lí" trên, câu văn đầu tiên có thể chỉnh sửa như sau:

Câu văn gốc

Chỉnh sửa

Although the methodological approaches are similar, the questions posed in classic epidemiology and clinical epidemiology are different. In classic epidemiology, epidemiologists pose a question about the etiology of a disease in a population of people.  Causal associations are important to identify because, if the causal factor identified can be manipulated or modified, prevention of disease is possible.  On the other hand, in clinical epidemiology, clinicians pose a question about the prognosis of a disease in a population of patients.  Prognosis can be regarded as a set of outcomes and their associated probabilities following the occurrence of some defining event or diagnosis that can be a symptom, sign, test result or disease.

Despite methodologic similarities, classic epidemiology and clinical epidemiology differ in aim.  Classic epidemiologists pose a question about the etiology of disease in a population of people; etiologic factors can be manipulated to prevent disease. Clinical epidemiologists pose a question about the prognosis of a disease in a population of patients; prognosis is the probability that an event or diagnosis will result in a particular outcome.

 

 

Trên đây chỉ là một ví dụ về cách phân tích một đoạn văn và cách làm cho đoạn văn gọn và dễ hiểu hơn.  Người ta hay nói "văn ôn, võ luyện".  Viết văn cũng cần phải ôn đi ôn lại, và phải thực tập thường xuyên.  Nắm lấy văn phạm chỉ mới là bước đầu, quan trọng hơn là phần chọn từ ngữ chính xác, và tổ chức ý tưởng sao cho logic.  Một khi đã có kĩ năng văn phạm, ngữ vựng tốt, và logic thì chắc chắn bài báo khoa học sẽ tốt.

NVT

Ghi thêm: Một đoạn văn có nhiều câu văn, nhưng làm sao phân biệt được cường độ của tính biệt cách (degree of separation) giữa những câu văn?  Sau đây là vài chỉ dẫn có ích về cách dùng dấu để phân biệt.

Cường độ tách biệt của mệnh đề (từ thấp đến cao):

Dấu phẩy (,)

Dấu hai chấm (:)

Dấu dash (--)

Ngoặc đơn ()

Dấu chấm phẩy (;)

Dấu chấm câu.

Cường độ về tính trang trọng (formality):

Dấu dash

Ngoặc đơn ()

Các dấu khác (phẩy, chấm phẩy, dấu chấm câu)