Showing posts with label Nguyen Xuan Dien. Show all posts
Showing posts with label Nguyen Xuan Dien. Show all posts

Tuesday, February 8, 2011

NGỦ BỌN Ở NHÀ CHỨA

Nhớ nhau, nương vào câu ca quan họ
Nguyễn Xuân Diện

Cho đến nay, đã từng có rất nhiều giả thuyết về sự ra đời và nguồn gốc của quan họ nhưng chưa có giả thuyết nào được chấp nhận một cách tuyệt đối. Ngay chữ Quan họ, chúng ta cũng chưa tìm được một văn bản Hán Nôm nào chép hai chữ này. Quan họ có từ bao giờ cũng chưa có câu trả lời xác quyết!  

Không gian văn hóa quan họ trải dài khắp 49 làng quan họ cổ của trấn Kinh Bắc xưa, nay thuộc hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang. Đó là vùng đất cổ xưa, với những ngôi chùa hàng ngàn năm tuổi, những hội hè đình đám, những phong tục tốt đẹp, những vị công hầu khanh tướng, những ông nghè ông trạng và những giai nhân tài sắc. Người Kinh Bắc có câu: Em đi khắp bốn phương trời/ Không đâu lịch sự bằng người ở đây. 

Thời gian của Quan họ là suốt bốn mùa Xuân - Hạ - Thu - Đông. Nhưng mùa Xuân mới thực sự là mùa của quan họ. Khi ấy “thong thả nhân gian nghỉ việc đồng”, các làng vào đám, nam thanh nữ tú đua nhau trẩy hội tưng bừng. Người Kinh Bắc hát quan họ trên thuyền, trên đồi, trong chùa, trong đình, và trong các tư gia...

Trai gái các làng quan họ lại thường tụ tập thành từng bọn (từ cổ, chỉ một nhóm người) để cùng nhau hát. Một bọn quan họ thường là những người trong một làng với nhau, với ý là để đối đáp với làng khác. Gặp nhau, người quan họ dùng những lời xưng hô thật nhún nhường, lịch sự. Bên nào cũng vui vì gặp gỡ, cũng mong được học lấy đôi lối đôi câu. Những bọn quan họ gặp nhau, thường là hát với nhau thâu đêm suốt sáng ở nhà chứa (nhà ông trùm của một bọn quan họ), và nghỉ lại ở nhà quan họ bạn của mình. Đó là tục ngủ bọn, có từ thưở xa xưa lắm! 

Về lề lối, theo học giả Toan Ánh thì quan họ có nhiều giọng, nhưng có ba giọng chính để hát đối đáp trong những ngày hội. Đó là Giọng sổng (dùng để dạo giọng lúc bắt đầu hát), thường là những lời ướm hỏi như:Hôm nay tứ hải giao tình/ Tuy rằng bốn bể nhưng sinh một nhà. Tiếp theo là Giọng vặt (những câu hát để đôi bên gắn bó với nhau). Giọng sổng chỉ có một giọng, còn giọng vặt thì là gồm nhiều giọng: giọng buồn, giọng vui, giọng cao, giọng thấp, giọng ngắn, giọng dài. Gặp nhau, người quan họ kể cho nhau rằng đêm đông lạnh giá, nhớ bạn, không dám, một mình đắp cả manh chiếu tấm chăn: Gió lạnh suốt đêm đông trường/ Nửa chăn, nửa chiếu, nửa giường để đó đợi ai… Sau Giọng vặt là Giọng bỉ (Giọng vỉ) để hát lúc chia tay. Giọng bỉ ngân dài, nói lên sự chua xót của phân ly và cả sự luyến tiếc của ngày mau tàn. Vì vậy, nội dung các câu hát giọng bỉ thường là căn dặn, nhắn nhủ nhau nhớ lấy những lời hẹn ước. 

Dẫu rằng dân gian có câu: “Ăn Bắc, mặc Kinh” ý nói người Kinh Bắc sành ăn, người Kinh kỳ (Kẻ Chợ, Hà Nội) thì sành mặc, nhưng người quan họ ăn mặc rất đẹp. Trang phục của người quan họ nền nã, kín đáo, lịch sự, tinh tế. Chi tiết nào trong trang phục liền anh, liền chị quan họ cũng đẹp. Nhưng có hai chi tiết trên trang phục của liền chị quan họ đã trở thành vẻ đẹp được thi ca tán tụng, đó là chiếc khăn mỏ quạ hình bông sen hồng và nếp váy đã lạc vào câu thơ “váy Đình Bảng buông chùng cửa võng” của thi sĩ Hoàng Cầm. 

Về chơi quan họ, chơi lối chơi của người quan họ ta cảm nhận được sự thanh lịch và nồng hậu của người Kinh Bắc. Một mâm cơm quan họ dọn ra, be rượu đã nghiêng bầu rót vào chén ngọc. Mâm cao cỗ đầy thịnh soạn, nhưng người quan họ lại vẫn khép nép thưa rằng: “Năm thì năm mới, tháng thì tháng xuân, các liền anh liền chị chẳng quản đường xá xa xôi đến thăm đất nước nhà chúng em, thăm thầy u chúng em. Nay đã thức thời, chúng em có sửa soạn mâm cơm nhạt, đầu mâm đĩa muối cuối mâm đĩa dưa, chúng em cũng mong các liền anh liền chị nâng chén dựng đũa để cho chúng em được thù tiếp đấy ạ!”. Và rồi người quan họ ca lên rằng: Tay tiên nâng chén rượu đào/ Sánh ra thì tiếc uống vào thời say. Mùa xuân, qua chơi quan họ, tình như thế, cảnh như thế, ai mà không say cho được!

Về với Kinh Bắc, cho dù bạn không phải là người con của quê hương ấy thì khi cất bước chân đi bạn cũng sẽ thấy đây là một quê hương của bạn rồi. Vì rằng Kinh Bắc có tất cả vẻ đẹp cổ truyền và vẹn nguyên của vùng quê văn hiến mà hồn của muôn xưa vẫn còn hiện diện đâu đây, trong giọng nói tiếng cười, trong nếp sinh hoạt của người dân hôm nay.

Khi câu hát “Người ơi người ở đừng về” vang lên lời giã bạn với lời hát rằng “đương vui như thế này, sao người bỏ ra về, có nhớ đến chúng em chăng?” thì bạn có cầm lòng được chăng?

Xuân này biết “đáo nơi neo”?

Bài và ảnh: Xuân Bình

Nứng với dâm thần?

Khi xưa, hết tết, ra Giêng, nứng xuân tình chả đâu hơn hội lễ ở những làng có biểu tượng, tục thờ dâm thần hay trò lễ tôn vinh văn hóa phồn thực như La Khê, Hoài Đức, Hà Nội; Đồng Kỵ, Bắc Ninh; Văn Trưng, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc; đền Bà Banh, Hải Dương; Tứ Xã, Lâm Thao, Phú Thọ.. . Quê ấy, từ khai hội đến rã đám, rộn ràng trống hội. Từ sáng mờ đất đến khi nhọ mặt, bên đu xuân, trai thì khom gối hạc, gái uốn lưng ong. Đêm mật, già trẻ hỉ hả vui trò nõ nường, gái đua nhau chèn, trai gắng sức nắn bóp, sờ soạng. Âm thanh động tình, kẻ rên, đứa hét, người hú nghe vui đếch tả được… Trong giá rét, khi đã ngấm men say, chỉ mới thoáng nghĩ hay chợt nhớ đến hội làng thì đã nao nức, dậm dật khắp ngõ ngách cơ thể. Tình ấy mới động lòng trời. Xuân ấy mới thực là xuân.

Hãy tạm quên đi những điêu khắc gỗ ẩn trên vì kèo, câu đầu, kẻ bẩy với những câu chuyện trai gái tắm hồ sen, chải tóc, làm duyên, tình tự ở Tây Đằng, Quang Húc, Tam Nông hay cảnh sờ tí con gái ở đình Đông Viên… Đẹp đến mấy thì cũng tạm để dành cho các nhà phê bình… ngắm nhìn và luận về văn hóa phồn thực Việt.

Bỏ qua chốn vắng lặng như đền Bà Banh ở Hà Nội, Hải Dương.

Khi xưa:

“Bơi Đăm, rước Giá, hội Thầy

Vui thì vui vậy không tày rã La”

Vậy mà bây giờ vào lúc rã đám hội làng La Khê, Hoài Đức chỉ còn thấy “đại cảnh” gái trai xô đẩy, chen lấn, sờ soạng, nắn bóp nhau….đã chuyển cảnh.

Và xuân này nếu có đến xem bắt chạch trong chum ở làng Văn Trưng, Vĩnh Tường thì cũng chẳng còn mấy “tình cảnh” trai làng một tay túm vú bạn gái, một tay khua khoắng bắt chạch…

Tiếc và oan nhất là pháo làng Đồng Kỵ, Bắc Ninh, thấm thoắt đã 16 niên không được một lần tan xác. Cũng như hội và lễ rước, pháo thì rõ to và cực dài. Nhưng chỉ còn đuồn đuỗn ra đó với vỏ giấy màu mè. Không bùng phát, chẳng thăng thần, khó thoát kiếp, Nõ Nường biết làm cách gì để chạm tới miền cực… khoái lạc, để trấn yểm dữ xấu, khát khao sinh sôi, ước vọng no đủ, cầu nguyện phúc lành?

 

Ký ức quê mùa, nhận thức thuần phác, tín ngưỡng xưa cũ đã và đang mốc mác hay tẹt dí dưới đống băng, đĩa, web sex, những câu chuyện tình rẻ tiền trên báo chí, truyền hình hay lối sống “hiện sinh” của một bộ phận không nhỏ của thanh thiếu niên…?

Mật ngữ Đụ Đị?

Hãy thử một lần về với Trò Trám ở đền cổ Tứ Xã, Lâm Thao. Làng Gáp đã đổi tên, thay dạng. Không còn những hình ảnh như thời nữ sỹ Hồ Xuân Hương về làm lẽ Tổng Cóc. Mờ nhòe dấu tích thủy tạ, ao sen nơi mà bà chúa thơ Nôm vịnh thơ giễu đời cùng Tổng Kình, Tú điếc, nho Trâm. Quê đang nguy cơ thành phố. Rừng trám hư thực, bí ẩn quanh đền cổ đã bị chặt bỏ. Những khoảng đất trống sau đền đã được xây dựng mới một ban thờ Mẫu quá trang nghiêm. Thần, Phật vô ưu nào muốn chiếm dụng khoảng đất hẹp mà con dân, người đời dung chứa những khát vọng trần tục. Lòng dân chẳng được tỏ bày. Trong ý niệm của một vài nhóm người có vai vế, thế lực cũng không còn chỗ dành cho gái trai hân hoan dự đại tiệc “tháo khoán” sau lễ mật. Trong lễ hội mới phục dựng, vì sao nhiều du khách vẫn hiếu kỳ đến độ nín thở chờ nghe lão làng hô lớn “linh tinh tình phộc”? Và đám báo chí thì chen vai, thích cánh, đánh chửi nhau để… cố ghi lại hình, chụp lại ảnh lúc Nõ và Nường… phộc… phộc…. phộc?!?!?!

Từ chỗ bị khinh bỉ, cấm đoán, ngăn cản, dục tình đã bị điều khiến theo một hướng cực đoan khác. Tín ngưỡng phồn thực vẫn bị đạo đức giả, giáo điều chỉ lối. Sinh sôi có còn là một Đức lớn của trời đất…?

Nhưng may mắn làm sao cái tinh quý của hội làng, thần thái văn hóa cổ truyền hay dấu tích tín ngưỡng phồn thực vẫn còn phảng phất, day dứt, quyến luyến đâu đó trong những dịp lễ hội đầu xuân mới được phục dựng. Ấy là những ẩn ngữ trong văn tế cùng các trường đoạn diễn xướng tứ dân chi nghiệp. Trước lễ mật, những nghệ sỹ ưu tú của làng sẽ có màn trình diễn về thợ cày cấy, kẻ đi câu, người bán mua Xuân, nhóm sỹ tử rao bán chữ nghĩa…

Chị nông dân thì véo von:

Người ta đi cấy lấy công

Tôi đây đi cấy lấy ông chủ nhà

Đi cấy thì gốc chổng lên

Ngọn thời cắm xuống mới nên mùa màng.

Lời ca của chàng thợ mộc có câu:

Người ta xẻ gỗ trên ngàn

Anh đây cưa lấy một nàng đương tơ

Với phường buôn bán hay kẻ sỹ thì câu chữ, lời ca có vẻ trau chuốt, ý tứ:

Còn xuân thì mua xuân đi

Nay lần mai lữa còn gì là xuân

 Hay:

Học trò đi học sách kinh

Tay cầm quản bút “quệt” tình nghiên đây

 Nhưng với mấy anh, chị hề hát pha trò thì câu chữ ngổn ngang sự tinh nghịch, đĩ bợm ra phết:

- Giờ đây anh mới hỏi nàng

Cái gì lủng lẳng một gang trong quần

- Chàng hỏi thì thiếp thưa rằng

Cái đeo lủng lẳng là giằng cối xay

- Ước gì em hóa thành trâu

Anh hóa thành chạc xỏ nhau cả ngày…

Ơ hay, sao lại: chày- cối, trâu- chạc, bút- nghiên…? Lạ thật, cớ gì mà cứ: mua, bán, cưa, quệt, xỏ, chổng lên… cắm xuống?

Trước lễ mật, trong một tiết điệu lạ lùng của đêm xuân, những ẩn ngữ cứ lặp đi, khi bổng lúc trầm, các động tác, vũ điệu cứ nhắc lại, tái hiện như một thức ma thuật? Vật dụng tầm thường đang hóa kiếp thành vật linh? Nõ nường đang được tôn vinh thành “thượng đẳng thần”, “bảo vật hộ dân”? Những cái “dung tục” đang được thiêng hóa? Chỉ có thể tìm câu trả lời trong niềm tin kỳ lạ của từng người dân Tứ Xã. Hàng trăm năm nay họ tin rằng khi diễn trò Đụ Đị vào thời khắc thiêng liêng của trời đất thì sẽ cảm tất thông, cầu tất ứng.

Nếu ai chửa tin thì mấy hôm nữa nhớ về Tứ Xã để kiểm chứng lời người xưa:

Bà ẵm cháu, mẹ bồng con

Không xem Trò Trám thì buồn cả năm.

- Giờ đây anh mới hỏi nàng
Cái gì lủng lẳng một gang trong quần
- Chàng hỏi thì thiếp thưa rằng
Cái đeo lủng lẳng là giằng cối xay
Bán "Xuân" - Mua "Xuân"

Ông già đánh lờ. Nhời hát của ông:

- Ai ơi chớ bảo tôi già

tôi còn gánh nổi những ba cái lờ

gánh lờ chẳng phải lờ không

có dăm con bấc nằm trong cái lờ

- Ai ơi chớ bảo tôi già

tôi còn tráng kiện bằng ba đương thì!

*Bài và ảnh do Xuân Bình gửi riêng Xuân Diện. Bản đăng trên Thể thao & Văn hóa Cuối tuần thì bị xẻo đi nhiều đoạn lắm!

Sunday, January 30, 2011

GIỜ TỐT ĐỂ XUẤT HÀNH - XÔNG NHÀ - MỞ CỬA HÀNG


 

 

Hướng và giờ xuất hành tốt trong ngày Tết:

* Giao thừa và ngày Mùng Một Tết (ngày Kỷ Sửu):

 

- Xuất hành hướng: Hỷ thần Đông Bắc - Tài thần Chính Nam

- Giờ tốt xuất hành: Giờ Mão (5h đến 7h sáng).Giờ Tỵ (9h đến 11h).Giờ Thân (3h chiều đến 5h chiều).Giờ Tuất (7h đến 9h tối) và Giờ Hợi (9h đến 11h đêm).

 

* Ngày Mùng Hai Tết (ngày Canh Dần):

- Hướng tốt: Hỷ thần Tây Bắc, Tài thần Tây Nam.

- Giờ xuất hành: Giờ Tý, Sửu (từ 11h đêm đến 3h sáng). Giờ Thìn (từ 7h sáng đến 11h trưa). Giờ Mùi (từ 1h chiều đến 3h chiều). Giờ Tuất (từ 7h đến 9h tối).

*Ngày Mùng Ba Tết (ngày Tân Mão):

- Hướng tốt: Hỷ thần Tây Nam – Tài thần Tây Nam.

- Giờ xuất hành: Giờ Tý (từ 11h đêm đến 1h sáng), Giờ Dần – Mão (từ 3h sáng đến 7h sáng), Giờ Ngọ - Mùi (từ 11h trưa đến 3h chiều), Giờ Dậu (từ 5h chiều đến 7h tối).

Tuổi xông nhà:

 

Năm Tân Mão thuộc hành Mộc nên chọn nguời xông nhà có mệnh thuộc hành Thủy nhưng không xung tuổi với chủ nhà và tránh những nguời có mệnh thuộc hành Kim (mộc khắc kim).

Những người có mệnh Thủy được xông nhà năm Tân Mão: tuổi Đinh Sửu (1937, 1997), tuổi Giáp Thân (1944), tuổi Nhâm Thìn (1952), tuổi Quý Tỵ (1953), tuổi Đinh Mùi (1967), tuổi Giáp Dần (1974), tuổi Ất Mão (1975), tuổi Nhâm Tuất (1982), tuổi Quý Hợi (1983).

Các tuổi trên được xông nhà năm Tân Mão nhưng trong đó tránh tuổi tứ xung với chủ nhà thành từng bộ như: Tý – Ngọ - Mão – Dậu; Dần – Thân – Tỵ - Hợi; Thìn – Tuất – Sửu – Mùi. (Ví dụ: chủ nhà tuổi Tý thì tránh những người tuổi Ngọ, Mão, Dậu).

Chọn những tuổi Tam hợp với chủ nhà như: Hợi – Mão – Mùi; Dần – Tuất – Ngọ; Tỵ - Dậu – Sửu. (Ví dụ: Chủ nhà tuổi Tý thì chọn những người tuổi Thân, Thìn).

Ngày mở cửa hàng đầu Xuân Tân Mão:

- Ngày mùng 2 Tết: từ 7h sáng đến 11h trưa; từ 1h đến 3h chiều

- Ngày mùng 4 Tết: từ 7h sáng đến 11h trưa; từ 3h đến 5h chiều (đẹp nhất)

- Ngày mùng 6 Tết: từ 5h sáng đến 7h sáng; từ 11h trưa đến 1h chiều; từ 3h đến 5h chiều.

- Ngày mùng 8 Tết: từ 7h sáng đến 11h trưa; từ 1h đến 3h chiều

- Ngày mùng 9 Tết: từ 3h sáng đến 7h sáng; từ 11h trưa đến 3h chiều

- Ngày 12 Tết: từ 5h sáng đến 7h sáng; từ 11h trưa đến 1h chiều; từ 3h đến 5h chiều.

Kính chúc mọi nhà An khang - Vạn phúc

Nguyễn Xuân Diện sưu tầm

CÁC BÀI VĂN CÚNG VÀ NGHI LỄ CÚNG TẾ XUÂN TÂN MÃO


Thưa chư vị,

Nhân dịp đón Tết Nguyên Đán Tân Mão, xin cung hiến quý vị những bài văn cúng trong dịp Tết, do tôi sưu tầm được. Hôm nay là 26 Tết, tôi đưa sớm các bài này lên để chư vị sắp xếp in ra để dùng, vì không phải nhà nào cũng có máy in.

VĂN KHẤN LỄ GIAO THỪA NGOÀI TRỜI

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

Kính lạy :

- Đức Đương lai hạ sinh Di Lặc Tôn Phật
- Hoàng Thiên, Hậu Thổ, chư vị Tôn Thần.
- Ngài Cựu Niên Ngụy Vương Hành Khiển; Mộc Tinh chí đức tôn thần, Tiêu Tào phán quan năm Canh Dần.
- Đương niên Trịnh Vương hành khiển, Thạch Tinh chi thần, Liễu Tào phán quan năm Tân Mão.
- Các Ngài Ngũ phương, Ngũ thổ, Long mạch, Táo Quân, chư vị tôn thần.
Nay là phút giao thừa năm Canh Dần sang Tân Mão

Chúng con là.................
Ngụ tại ......................

Phút thiêng giao thừa vừa tới, năm cũ qua đi, đón mừng năm mới, tam dương khai thái, vạn tượng canh tân. Nay Ngài Thái Tuế tôn thần trên vâng lệnh Thượng Đế giám sát vạn dân, dưới bảo hộ sinh linh tảo trừ yêu nghiệt. Quan cũ về triều đế khuyết, lưu phúc lưu ân. Quan mới xuống thay, thể đức hiếu sinh, ban tài tiếp lộc. Nhân buổi tân xuân, tín chủ chúng con thành tâm sửa biện hương hoa phẩm vật, nghi lễ cung trần, dâng lên trước án. Cúng dâng Phật Thánh, dâng hiến Tôn Thần, đốt nén tâm hương, dốc lòng bái thỉnh.

Chúng con kính mời: Ngài Cựu niên Đương cai, Ngài Tân niên Đương cai Thái Tuế Chí đức Tôn thần, Ngài Bản cảnh Thành Hoàng, Chư vị Đại Vương, Ngài Bản xứ Thần Linh Thổ Địa, Phúc Đức Chính Thần, các Ngài Ngũ phương, Ngũ thổ, Long mạch Tài Thần, các Bản gia Táo Quân và chư vị Thần Linh cai quản ở trong xứ này. Cúi xin giáng lâm trước án thụ hưởng lễ vật.

Nguyện cho tín chủ: Minh niên khang thái, trú dạ cát tường. Thời thời được chữ bình an, gia đạo hưng long thịnh vượng.

Giãi tấm lòng thành, cúi xin chứng giám.
Cẩn cáo.

Ghi chú: Ngoài việc đứng trước bàn thờ (ngoài sân) khấn nguyện theo nội dung trên, quý vị sau khi cúng nên hóa bản văn khấn ngay rồi tưới một ít rượu cúng lên để gửi đến Ngài Đương niên hành khiển. Vì khi ấy trên trời đang nhộn nhịp gấp gáp diễn ra các cuộc bàn giao, nên có thể các Ngài không kịp nghe lời tâu bày thỉnh nguyện, nếu quý vị hóa văn bản này tức là đã kịp gửi văn bản thì sau Tết, rảnh rang, các viên thư ký và bộ phận văn thư sẽ trình lên Ngài Đương niên.

Lễ ngoài trời (hoặc trong nhà hướng ra ngoài trời trên lan can, cửa sổ), gồm: Oản quả, bánh kẹo, mứt Tết tùy tâm, bánh chưng một đôi, trầu cau, thuốc lá, nước trà.

Lễ mặn thì dùng: Đĩa xôi, thịt lợn (hoặc gà), 3 chén rượu, 1000 vàng hoa đỏ, sớ điệp (nếu có), tiền vàng.

VĂN KHẤN LỄ GIAO THỪA TRONG NHÀ

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

Kính lạy:
- Đức Đương Lai hạ sinh Di Lặc Tôn Phật
- Hoàng Thiên, Hậu Thổ chư vị tôn Thần.
- Long Mạch, Táo Quân, chư vị Tôn Thần.
- Các cụ Tổ Tiên nội, ngoại chư vị tiên linh.

Nay phút giao thừa năm Tân Mão,

Chúng con là...........................
Ngụ tại.............................................

Phút giao thừa vừa tới, nay theo vận luật , tống cựu nghênh tân, giờ Tý đầu Xuân, đón mừng Nguyên Đán, tín chủ chúng con thành tâm, sửa biện hương hoa phẩm vật, nghi lễ cung trần, dâng lên trước án, cúng dâng Phật Thánh, dâng hiến Tôn Thần, tiến cúng Tổ Tiên, đốt nén tâm hương dốc lòng bái thỉnh.

Chúng con xin kính mời:

Ngài Bản Cảnh Thành Hoàng chư vị Đại Vương, Ngài Bản xứ Thần Linh Thổ Địa, Phúc Đức Chính Thần, các Ngài Ngũ phương, Ngũ thổ, Long Mạch Tài Thần, các Ngài Bản gia Táo Quân và chư vị Thần Linh cai quản ở trong xứ này. Cúi xin giáng lâm trước án thụ hưởng lễ vật. Con lại kính mời các cụ tiên linh Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ, Bá thúc huynh đệ, Cô di tỷ muội, nội ngoại tộc chư vị hương linh cúi xin giáng về linh sàng hâm hưởng lễ vật.

Tín chủ lại kính mời các vị vong linh Tiền chủ, Hậu chủ, y thảo phụ mộc ở trong đất này. Nhân tiết giao thừa, giáng lâm trước án chiêm ngưỡng tân xuân, thụ hưởng lễ vật.

Nguyện cho tín chủ: Minh niên khang thái, trú dạ cát tường. Thời thời được chữ bình an, gia đạo hưng long thịnh vượng.

Giãi tấm lòng thành cúi xin chứng giám.
Cẩn cáo.

VĂN KHẤN THẦN LINH TRONG NHÀ (MÙNG 1)

Nam Mô A Di Đà Phật!(3 lần)

 

Kính lạy:

- Đức Đương Lai hạ sinh Di Lặc Tôn Phật.
- Phật Trời , Hoàng Thiên Hậu Thổ.
- Chư vị Tôn Thần.

Hôm nay là ngày mồng 1 tháng Giêng, nhằm ngày Tết Nguyên Đán đầu xuân, giải trừ gió đông lạnh lẽo, hung nghiệt tiêu tan, đón mừng Nguyên Đán xuân thiên, mưa móc thấm nhuần, muôn vật tưng bừng đổi mới. Nơi nơi lễ tiết, chốn chốn tường trình.

Tín chủ con là ................................

Ngụ tại ..............................................

Nhân tiết minh niên sắm sửa hương hoa, cơm canh lễ vật bày ra trước án, dâng cúng Thiên Địa Tôn Thần. Thiết nghĩ Tôn Thần hào khí sáng loà, ân đức rộng lớn. Ngôi cao vạn trượng uy nghi, vị chính mười phương biến hiện. Lòng thành vừa khởi, Tôn Đức cảm thông. Cúi xin giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành thụ hưởng lễ vật. Nguyện cho chúng con mọi người hoan hỷ vinh xương, con cháu cát tường khang kiện. Mong ơn Đương Cảnh Thành Hoàng, đội đức Tôn Thần Bản xứ. Hộ trì tín chủ, gia lộc gia ân, xá quá trừ tai. Đầu năm chí giữa, nửa năm chí cuối, sự nghiệp hanh thông, sở cầu như ý.

Dãi tấm lòng thành cúi xin chứng giám.
Cẩn cáo.

VĂN KHẤN TỔ TIÊN NGÀY MÙNG 1 TẾT

Nam Mô A Di Đà Phật!

Kính lạy:

- Đức Đương Lai hạ sinh Di Lặc Tôn Phật .

- Các cụ Tổ Khảo, Tổ Tỷ, Bá thúc huynh đệ, Cô di tỷ muội, đường thượng tiên linh các hương hồn nội tộc, ngoại tộc.

Nay theo Tuế luật, Âm Dương vận hành tới tuần Nguyên Đán, mồng Một đầu xuân mưa móc thấm nhuần, đón mừng năm mới. Con cháu tưởng niệm ân đức Tổ Tiên, như trời cao biển rộng, khôn đem tấc cỏ báo ba xuân. Do đó chúng con cùng toàn thể con cháu trong nhà sửa sang lễ vật, oản quả hương hoa kính dâng lên trước án.

Kính mời các cụ Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ, Bá thúc đệ huynh, Cô di tỷ muội, nam nữ tử tôn nội ngoại. Cúi xin thương xót con cháu, linh thiêng giáng về linh sàng, hâm hưởng lễ vật. Phù hộ độ trì cho con cháu năm mới an khang, mọi bề thuận lợi, sự nghiệp hanh thông. Bốn mùa không hạn ách nào xâm, tám tiết có điềm lành tiếp ứng. Tín chủ lại mời: các vị vong linh, tiền chủ , hậu chủ ở trong đất này cùng về hâm hưởng.

Giãi tấm lòng thành cúi xin chứng giám.
Cẩn cáo.

VĂN KHẤN LỄ TẠ NĂM MỚI (MÙNG 3) – HÓA VÀNG

Nam Mô A Di Đà Phật! (3 lần)

Kính lạy:

- Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn Thần.
- Ngài Đương niên, Ngài Bản Cảnh Thành Hoàng,
- Các Ngài Thổ Địa, Táo Quân, Long Mạch Tôn thần.
- Các Tổ Khảo, Tổ Tỷ, nội ngoại tiên linh.

Hôm nay là ngày mồng Ba tháng Giêng năm Tân Mão

Tín chủ chúng con ..........................
Ngụ tại ..........................................

Thành tâm sửa biện hương hoa phẩm vật, phù tửu lễ nghi, cúng dâng trước án. Kính cẩn thưa trình: Tiệc xuân đã mãn, Nguyên Đán đã qua, nay xin thiêu hoá kim ngân, lễ tạ Tôn Thần, rước tiễn tiên linh trở về Âm giới. Kính xin: lưu phúc lưu ân, phù hộ độ trì, dương cơ âm mộ, mọi chỗ tốt lành. Cháu con được chữ bình an, gia đạo hưng long thịnh vượng. Lòng thành kính cẩn, lễ bạc tiến dâng, lượng cả xét soi, cúi xin chứng giám.

Cẩn cáo.

********************

 

Kính chúc chư vị đón Tết Tân Mão giản dị, trang nghiêm, thành tâm và đúng nghi lễ!

Nguyễn Xuân Diện sưu tầm và bái chúc!


Tuesday, January 25, 2011

TRUYỀN THUYẾT VỀ TÁO QUÂN


Trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam, Táo quân có nguồn gốc từ ba vị thần Thổ Công, Thổ Địa, Thổ Kỳ của Lão giáo Trung Quốc nhưng được Việt hóa thành huyền tích "2 ông 1 bà" - vị thần Đất, vị thần Nhà, vị thần Bếp núc. Tuy vậy người dân vẫn quen gọi chung là Táo Quân hoặc Ông Táo.


Ở Việt Nam, sự tích Táo Quân được truyền khẩu, rồi ghi chép, do đó có những sự khác nhau về tình tiết, nội dung chính được tóm tắt như sau: 

Trọng Cao có vợ là Thị Nhi ăn ở với nhau đã lâu mà không con, nên sinh ra buồn phiền, hay cãi cọ nhau. Một hôm, Trọng Cao giận quá, đánh vợ. Thị Nhi bỏ nhà ra đi sau đó gặp và bằng lòng làm vợ Phạm Lang. Khi Trọng Cao hết giận vợ, nghĩ lại mình cũng có lỗi nên đi tìm vợ. Khi đi tìm vì tiền bạc đem theo đều tiêu hết nên Trọng Cao đành phải đi ăn xin. 

Khi Trọng Cao đến ăn xin nhà Thị Nhi, thì hai bên nhận ra nhau. Thị Nhi rước Trọng Cao vào nhà, hai người kể chuyện và Thị Nhi tỏ lòng ân hận vì đã trót lấy Phạm Lang làm chồng. 

Phạm Lang trở về nhà, sợ chồng bắt gặp Trọng Cao nơi đây thì khó giải thích, nên Thị Nhi bảo Trọng Cao ẩn trong đống rơm ngoài vườn. Phạm Lang về nhà liền ra đốt đống rơm để lấy tro bón ruộng. Trọng Cao không dám chui ra nên bị chết thiêu. Thị Nhi trong nhà chạy ra thấy Trọng Cao đã chết bởi sự sắp đặt của mình nên nhào vào đống rơm đang cháy để chết theo. 

Phạm Lang gặp tình cảnh quá bất ngờ, thấy vợ chết không biết tính sao, liền nhảy vào đống rơm đang cháy để chết theo vợ. 

Linh hồn của ba vị được đưa lên Thượng Đế. Thượng Đế thấy ba người đều có nghĩa, nên sắc phong cho làm Táo Quân, gọi chung là: Định Phúc Táo Quân, nhưng mỗi người giữ một việc: 

- Phạm Lang làm Thổ Công, trông coi việc bếp. Danh hiệu: Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân 
-Trọng Cao làm Thổ Địa, trông coi việc nhà cửa. Danh hiệu: Thổ Địa Long Mạch Tôn Thần 
- Thị Nhi làm Thổ Kỳ, trông coi việc chợ búa. Danh hiệu: Ngũ Phương Ngũ Thổ Phúc Đức Chánh Thần. 

Truyền thuyết này thể hiện rất đậm nét trong sinh hoạt của người Việt. Trong bếp ngày xưa, thường có ba "ông đầu rau" - tức là ba hòn đất nặn dùng để kê nồi xanh đun bếp, trong đó hai hòn nhỏ hơn hòn thứ ba. Và nhân dân có tục lệ thờ "hai ông một bà", ngày 23 tháng Chạp hàng năm làm "lễ Táo quân", "Tết ông Công ông Táo", "tiễn ông Táo lên chầu Trời"... Đây rất có thể là ảnh hưởng của phong tục thờ thần lửa - một phong tục có từ lâu đời của nhiều dân tộc, tuy nhiên cách thể hiện ở mỗi nước một khác. Ví như ở Trung Quốc, từ thời cổ đại, Táo quân (còn được gọi là "Táo thần", "Táo vương", "ông Táo") đã được coi là một trong bảy vị thần đất được toàn dân cúng lễ. Nhưng nguồn gốc của Táo quân thì không nhất quán. Theo sách Hoài Nam Tử, Viêm Đế (tức Thần Nông) mang lửa đến cho dân nên khi chết được thờ làm thần bếp. Sách Lã Thị Xuân Thu lại coi Chúc Dung mới là thần quản lý lửa (do Viêm Đế mang tới) nên khi chết người dân thờ làm thần lửa. Còn sách Tây Dương tạp trở thì kể: thần lửa trông như một cô gái đẹp, tên là Ổi hay Trương Đan, tên chữ là Tử Quách, những ngày không trăng thường lên trời tâu về việc người nào có lỗi... 

 

 

Chuyện truyền miệng của người Trung Quốc lại cho rằng trước kia mỗi tháng vua bếp lên trời một lần vào ngày tối (ngày cuối tháng âm lịch) để báo cáo về từng người trong mỗi gia đình (nhất là về những người đàn bà làm điều xấu); sau này, mỗi năm vua chỉ lên trời một lần vào ngày 23 hoặc 24 tháng Chạp. Đến ngày ấy, người Trung Quốc bày bàn thờ gần bếp, cúng vua bếp bằng thịt, cá, rượu nếp, bánh kẹo; đặc biệt có thêm cả nước và cỏ khô (cho ngựa của vua bếp "ăn" để bay và chở vua lên trời - khác với Táo quân của ta thì cưỡi cá chép lên trời). 

Tại sao ông Táo lại cưỡi cá chép về trời mà không phải các con vật khác?

Phong tục của người Việt, ngày 23 tháng chạp, nhà nào cũng tiễn ông Táo lên chầu trời. Trên bàn thờ có ba chiếc mũ mới bằng giấy: một màu vàng ở giữa, hai màu đen ở hai bên - tức hai ông, một bà - không có cỗ mặn, chỉ cúng hương hoa, sau có 3 con cá chép đang bơi trong chậu thau. 3 con cá chép có ý nghĩa làm "ngựa" để Táo quân lên chầu trời. Sau khi cúng mũ được đốt và cá chép được mang ra thả ở ao, hồ, sông...

 


Tết Táo quân vào ngày 23 tháng Chạp - người ta coi đây là ngày "vua bếp" lên chầu Trời để tâu lại việc bếp núc, làm ăn, cư xử của gia đình trong năm qua.

Ngày 23 Tết, các bà nội trợ của mỗi gia đình đã xách túi ra chợ chuẩn bị cho mâm cỗ cúng Táo quân. Một thứ không thể thiếu trong buổi đi chợ sáng nay là cá chép.

 


Cá Chép Vàng hay còn gọi là (Cá Chép Tiên) là một loài động vật sống ở trên Thiên Đình, hồi trước sống trên trời, do phạm phải lỗi, nên bị Thượng Đế đày xuống trần gian để Tu Hành để chuộc lại tội lỗi của mình gây ra. Sau khi Tu Hành có chính quả, thì cá Chép sẽ hóa thân thành rồng và bay lên Trời. Còn Ông Táo là do Thượng Đế phái xuống trần tục để theo dõi loài người, xem ai là người Thiện, người Ác. 

Sau đó Ông Táo bay về Thiên Đình để tâu lên Thượng Đế những việc ở dưới trần gian Nhưng mà muốn bay lên Trời , thì Ông Táo phải nhờ đến cá Chép mới lên được. 

 

Làm lễ cúng ông Công ông Táo tùy nếp từng nhà nhưng mâm cúng thường bao gồm: 

- "Phục trang" của ông Công ông Táo. 

- Ba con cá chép vàng (loại nhỏ để cúng), nhớ để vào cái bình cao cao kẻo cá nhảy ra ngoài. Tuy nhiên có nhà không cần cá sống vì đã có cá chép giấy thường bán kèm trong túi "phục trang". Nhà nào gần ao hồ, sông suối thì nên mua cá sống, cúng xong thì đem thả (nếu nhà có trẻ con, cho các cháu đi thả cá và giảng giải cho các cháu biết phong tục thì rất hay). Thả cá xong, xin nhớ đừng vứt túi ni-lông xuống sông hồ kẻo coi như là không những không được phúc phóng sinh mà còn bị vướng vào nghiệp sát sinh. 

- Thịt lợn luộc: 1 miếng, thịt vai gáy. Nên đi chợ sớm mua thì được thịt tươi ngon 

 

- Một món canh: canh măng với xương. 

- Một món xào có rau. 

- Một đĩa muối. 

- Hoa quả vàng mã. 

*Lập riêng bàn thờ cúng tiễn Táo Quân ở khu vực nhà bếp. 

VĂN KHẤN LỄ ÔNG TÁO CHẦU TRỜI

 

Nam mô A Di Đà Phật!
 

Kính lạy Ngài Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân ! 
Tín chủ con là:............. 
Ngụ tại:....................... 

Nhằm ngày 23 tháng Chạp , tín chủ chúng con thành tâm , sửa biện hương hoa phẩm vật , xiêm hài áo mũ , nghi lễ cung trần, dâng lên trước án, dâng hiến Tôn Thần, đốt nén Tâm Hương dốc lòng bái thỉnh. 

Chúng con kính mời : 

Ngài Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân giáng lâm trước án thụ hưởng lễ vật. Phỏng theo lệ cũ, Ngài là vị chủ, Ngũ Tự Gia Thần, soi xét lòng trần, Táo Quân chứng giám. 

Trong năm sai phạm, các tội lỗi lầm, cúi xin Tôn Thần, gia ân châm chước. Ban lộc ban phước, phù hộ toàn gia, trai gái trẻ già, an ninh khang thái. 

Giãi tấm lòng thành, cúi xin chứng giám. 
Cẩn cáo. 

 

Nguyễn Xuân Diện sưu tầm. 



Ghi chú: 

 

Thưa chưa vị,
1. Nếu chư vị vẫn muốn đặt bàn thờ Ông Táo ở khu vực bàn thờ gia tiên thì cũng được, nhưng phải làm thành một mâm riêng, phân biệt mâm cúng gia tiên.
2. Sau ngày 23 tháng Chạp, thì các gia đình có thể tiến hành dọn bàn thờ (quét, đánh bóng các đồ thờ bằng đồng, lau rửa bát hương...), tỉa chân hương, hoặc thậm chí bỏ hết chân hương cũ. Nếu thay bát hương hoặc bàn thờ, xin đem đốt hoặc thả xuống sông lớn.
3. Câu Nam Mô A Di Đà Phật là câu khấn cửa miệng của dân gian, mang nét đặc sắc của Phật giáo Việt Nam, vì Phật thị hiện khắp nơi.
4. Ngày tiễn ông Táo, nhà nhà đều cúng bái, đốt hương, hóa mã...vậy xin bà con hết sức cảnh giác để tránh hỏa hoạn cho nhà mình và nhà hàng xóm. Vàng hương khi đốt xong, cần gom lại cho sạch sẽ, đảm bảo vệ sinh cho môi trường.
5. Nếu nhà có trẻ con, nên giảng giải cho các cháu bé hiểu biết về phong tục cúng ông Táo.